1. JD Vance hứa mở cuộc điều tra về báo cáo cho biết một quan chức Ngũ Giác Đài đe dọa Sứ thần Tòa Thánh dẫn đến việc Đức Thánh Cha hủy bỏ chuyến tông du Hoa Kỳ
Phó Tổng thống Mỹ JD Vance cho biết ông sẽ xem xét các báo cáo về việc các quan chức cao cấp của Ngũ Giác Đài đã khiển trách Sứ thần Tòa Thánh, dẫn đến việc hủy bỏ chuyến thăm dự kiến của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV. Các báo cáo này đã gây xao xuyến và bàng hoàng trong Giáo Hội tại Mỹ.
Ông Vance, phát biểu tại Hung Gia Lợi, được hỏi về những thông tin được đăng tải đầu tiên trên tờ The Free Press, cho rằng Đức Hồng Y Christophe Pierre, Sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, đã được triệu tập đến Ngũ Giác Đài vào tháng Giêng để nghe một quan chức Bộ Quốc Phòng chỉ trích những lời phê bình của Vatican và Giáo Hội Công Giáo tại Mỹ và yêu cầu Tòa Thánh cũng như Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ phải ủng hộ chiến thuật quân sự của chính quyền Tổng thống Trump.
“Tôi thực sự muốn nói chuyện với Đức Hồng Y Christophe Pierre và, thẳng thắn mà nói, với những người của chúng tôi, để tìm hiểu xem chuyện gì đã thực sự xảy ra,” Vance nói. “Tôi nghĩ rằng việc đưa ra ý kiến về những câu chuyện chưa được xác nhận và kiểm chứng luôn là một ý kiến tồi, vì vậy tôi sẽ không làm điều đó.”
Tạp chí Newsweek đã liên hệ với Vatican qua email vào chiều thứ Tư để xin bình luận.
Một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng nói với Newsweek rằng cách tờ Free Press mô tả cuộc gặp là “phóng đại và xuyên tạc quá mức”.
Phát ngôn nhân cho biết: “Cuộc gặp giữa các quan chức Ngũ Giác Đài và Vatican là một cuộc thảo luận tôn trọng và hợp lý. Chúng tôi dành sự tôn trọng cao nhất và hoan nghênh việc tiếp tục đối thoại với Tòa Thánh.”
Theo báo cáo, được xác nhận bởi nhà báo độc lập Christopher Hale, người viết chuyên mục Letters from Leo Substack, một cuộc họp kín giữa các quan chức Vatican và Ngũ Giác Đài đã diễn ra vào tháng Giêng.
Các quan chức Mỹ được tường trình đã khiển trách các đại diện của Giáo Hội Công Giáo, trong đó một quan chức đã rút một vũ khí từ thế kỷ 14 và nhắc đến thời kỳ Giáo hoàng Avignon - một giai đoạn mà chế độ quân chủ Pháp sử dụng vũ lực để ép buộc Giám mục thành Rôma phải tuân theo ý muốn của mình.
Theo tờ Free Press, Thứ trưởng Bộ Chiến tranh phụ trách chính sách Elbridge Colby và các đồng nghiệp đã nói với Hồng Y rằng: “Mỹ có sức mạnh quân sự để làm bất cứ điều gì họ muốn trên thế giới. Giáo Hội Công Giáo tốt hơn hết nên đứng về phía họ.”
Các quan chức Vatican được tường trình đã vô cùng sốc trước sự việc này đến nỗi chuyến thăm dự kiến của vị giáo hoàng người Mỹ đầu tiên đã bị hủy bỏ.
Đức Giáo Hoàng đã lên tiếng phản đối các hành động của Tổng thống Trump.
Kể từ khi nhậm chức năm ngoái, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhiều lần lên tiếng phản đối chính quyền Tổng thống Trump, trong đó có cả vấn đề chiến tranh với Iran trong những tuần gần đây.
Phát biểu với các phóng viên hôm thứ Ba khi rời khỏi dinh thự ở Castel Gandolfo, phía nam Rôma, Giáo hoàng đã trực tiếp đáp trả những bình luận của Tổng thống Trump hồi đầu ngày, trong đó Tổng thống Trump cho rằng “cả một nền văn minh sẽ diệt vong đêm nay” nếu Iran không đáp ứng thời hạn mà Mỹ đặt ra liên quan đến cuộc xung đột đang leo thang.
Đức Lêô cho rằng ngôn từ đó là lời đe dọa đối với toàn thể người dân Iran, chứ không chỉ riêng giới lãnh đạo quốc gia.
“Hôm nay, như chúng ta đều biết, đã có một lời đe dọa nhắm vào toàn thể người dân Iran,” Đức Giáo Hoàng nói. “Điều này thực sự không thể chấp nhận được.”
Một chủ đề trọng tâm trong thông điệp Phục Sinh của Đức Giáo Hoàng Lêô vào cuối tuần qua là lời cảnh báo chống lại điều mà ông gọi là “sự toàn cầu hóa sự vô cảm” đối với nỗi đau khổ - một cụm từ mà ngài đã nêu rõ là của người tiền nhiệm của mình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Những phát biểu của ngài được đưa ra trong bối cảnh các cuộc xung đột toàn cầu đang diễn ra, bao gồm cuộc chiến tranh Mỹ-Israel chống Iran và cuộc chiến tranh kéo dài của Nga ở Ukraine, cả hai cuộc xung đột mà ngài đã nhiều lần kêu gọi các nhà lãnh đạo chấm dứt.
Liệu Giáo hoàng có dự định đến thăm Hoa Kỳ không?
Các nguồn tin cho rằng Giáo hoàng được mời đến Mỹ như một phần của lễ kỷ niệm 250 năm thành lập nước này.
Theo tờ Free Press, Vatican ban đầu đã cân nhắc ý tưởng này, nhưng đã hoãn chuyến thăm vô thời hạn do những bất đồng về chính sách đối ngoại.
Vào ngày 4 tháng 7, Giáo hoàng sẽ đến thăm đảo Lampedusa của Ý, nơi thường xuyên có người di cư từ Bắc Phi dạt vào bờ.
Source:Newsweek
2. Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc bác bỏ những phát biểu được tường trình đã nhắm vào Đức Giáo Hoàng và Vatican.
Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc đang bác bỏ các báo cáo cho rằng các quan chức quốc phòng cao cấp của Mỹ đã yêu cầu Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và Vatican “đứng về phía” Hoa Kỳ trong các vấn đề về ảnh hưởng quân sự và giám sát khu vực Tây bán cầu.
Theo tờ Free Press, các cáo buộc xuất phát từ những cuộc tiếp xúc diễn ra vào tháng Giêng, trong đó cho rằng Thứ trưởng Quốc phòng Elbridge Colby bị cáo buộc đã triệu tập Đức Hồng Y Christophe Pierre, Sứ thần Tòa Thánh tại Washington, DC, để đưa ra một “lời khiển trách gay gắt” trong một cuộc họp kín được mô tả là căng thẳng.
Theo lời kể, Colby đã nói với Đức Hồng Y Pierre rằng “Hoa Kỳ có sức mạnh quân sự để làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn trên thế giới”, và nói thêm: “Giáo Hội Công Giáo tốt hơn hết nên đứng về phía họ”.
Hôm thứ Tư, nhà báo độc lập Christopher Hale trên trang web Letters From Leo của mình đã xác nhận cuộc gặp gỡ đã diễn ra, đồng thời cho biết thêm “một số quan chức Vatican đã rất lo ngại trước chiến thuật của Ngũ Giác Đài đến nỗi họ đã hoãn kế hoạch cho chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tới Hoa Kỳ vào giữa năm nay”. Đức Giáo Hoàng 70 tuổi, quê ở Chicago, dự kiến sẽ đến Hoa Kỳ vào tháng 7 này như một phần của lễ kỷ niệm 250 năm thành lập quốc gia. Tuy nhiên, chuyến thăm đã bị hủy bỏ sau cuộc gặp gỡ tai hại giữa Đức Sứ thần Tòa Thánh và Colby.
“Cách tờ Free Press mô tả cuộc gặp gỡ là phóng đại và xuyên tạc quá mức,” một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Mỹ nói với Military.com. “Cuộc gặp giữa các quan chức Ngũ Giác Đài và Vatican là một cuộc thảo luận tôn trọng và hợp lý. Chúng tôi dành sự tôn trọng cao nhất và hoan nghênh việc tiếp tục đối thoại với Tòa Thánh.”
Phát ngôn nhân Tòa Bạch Ốc Anna Kelly không trực tiếp bình luận về các báo cáo và cáo buộc nêu trong bản tin của Free Press, thay vào đó bà ca ngợi những thành tựu của chính quyền Tổng thống Trump.
“Tất cả các hành động chính sách đối ngoại của Tổng thống Trump đều đã làm cho thế giới an toàn hơn, ổn định hơn và thịnh vượng hơn,” Kelly nói với Military.com. “Người Mỹ theo đạo Công Giáo đã ủng hộ mạnh mẽ Tổng thống Trump vào năm 2024, và chính quyền của tổng thống có mối quan hệ tích cực với Vatican—mối quan hệ này càng được củng cố khi Phó Tổng thống Vance tham dự thánh lễ nhậm chức của Giáo hoàng Lêô XIV năm ngoái.”
“Tổng thống đã làm được nhiều hơn bất kỳ người tiền nhiệm nào của ông ấy trong việc cứu sống người dân và giải quyết các xung đột toàn cầu. Và sau khi hoàn thành các mục tiêu quân sự của mình ở Iran, ông ấy hy vọng rằng thỏa thuận đang được thảo luận có thể dẫn đến một nền hòa bình lâu dài ở Trung Đông.”
Một quan chức Vatican nói với tờ Free Press rằng lời đe dọa được tường trình của thứ trưởng Colby là phản ứng trước việc Đức Giáo Hoàng thách thức Học thuyết Donroe - là quan điểm cập nhật của Tổng thống Trump về sự thống trị và ảnh hưởng của Mỹ ở Tây bán cầu.
“Nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận giữa tất cả các bên đang bị thay thế bởi nền ngoại giao dựa trên vũ lực, bởi các cá nhân hoặc các nhóm đồng minh,” Đức Giáo Hoàng nói vào tháng Giêng trong bài phát biểu thường niên trước ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh.
Các quan chức tại Vatican cho rằng những phát ngôn được tường trình của Colby ám chỉ đến một giáo hoàng miền Avignon, được xem như một mối đe dọa sử dụng vũ lực quân sự chống lại Tòa Thánh.
Sự tương đồng về lịch sử có liên quan đến cuộc ly giáo Avignon vào thế kỷ 14, khi vương triều Pháp đe dọa đến vị trí của Đức Giáo Hoàng. Vào thời điểm đó, từ tháng 9 năm 1378 đến tháng 11 năm 1417, nhiều giám mục cư trú tại Rôma và Avignon đồng thời tuyên bố mình là Giáo hoàng thực sự.
“Nếu báo cáo này chính xác, nó chỉ đơn giản cho thấy sự kiêu ngạo lố bịch của các quan chức Ngũ Giác Đài và chính quyền Tổng thống Trump khi nghĩ rằng họ có quyền lực để lay chuyển một thể chế vững chắc như Giáo hoàng,” Francis DeBernardo, giám đốc điều hành của New Ways Ministry, một tổ chức Công Giáo có trụ sở tại Maryland chuyên giáo dục và vận động cho sự công bằng, hòa nhập và công lý, nói với Military.com.
DeBernardo nói rằng quyền lực thế tục không thể đe dọa Đại diện của Chúa Kitô; mà đúng hơn, việc đe dọa Đức Giáo Hoàng “cho thấy nỗi sợ hãi của các quan chức dưới thời Tổng thống Trump trước thực tế rằng Đức Giáo Hoàng Lêô, một người Mỹ, có quyền lực và tầm ảnh hưởng lớn hơn tổng thống trên trường quốc tế.”
Phó Tổng thống Vance, người đã đến Hung Gia Lợi hồi đầu tuần để vận động tranh cử cho Viktor Orban, đã được hỏi về những thông tin cho rằng có sự tương tác giữa các quan chức chính quyền Tổng thống Trump và đại sứ Tòa thánh.
Tháng 5 năm ngoái, Vance đã đích thân mời Đức Giáo Hoàng đến Mỹ tham dự lễ kỷ niệm 250 năm.
Theo các nguồn tin, Vance ban đầu không nhớ Đức Hồng Y Pierre là ai, và cho biết ông sẽ điều tra vụ việc.
“Tôi chưa từng thấy bản tin này bao giờ,” Vance nói. “Tôi thực sự muốn nói chuyện với Đức Hồng Y Christophe Pierre, và thẳng thắn mà nói, với những người của chúng tôi, để tìm hiểu xem chuyện gì thực sự đã xảy ra.”
Những thông tin mới nhất xuất hiện sau phát biểu của Đức Giáo Hoàng nhằm đáp trả tuyên bố của Tổng thống Trump hôm thứ Ba, trong đó ông đe dọa sẽ phá hủy “toàn bộ nền văn minh Iran” nếu Tehran không tuân thủ thời hạn mở lại eo biển Hormuz. Điều đó đã dẫn đến một thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần giữa hai quốc gia.
“Hôm nay, như chúng ta đều biết, cũng có một mối đe dọa nhắm vào toàn thể người dân Iran. Và điều này thực sự không thể chấp nhận được!”, Đức Giáo Hoàng nói hôm thứ Ba bằng tiếng Ý. “Chắc chắn đây là những vấn đề về luật pháp quốc tế, nhưng hơn thế nữa, đó là một vấn đề đạo đức liên quan đến lợi ích của toàn thể người dân.”
Đức Giáo Hoàng cũng đã thường xuyên công khai lên tiếng về các chính sách nhập cư cứng rắn của chính quyền Tổng thống Trump.
Source:Military
3. 4% số ca tử vong ở Bỉ là các trường hợp an tử.
Năm 2025, Bỉ ghi nhận kỷ lục 4.486 ca tử vong được hỗ trợ, tăng 12,4% so với năm trước, chiếm 4% tổng số ca tử vong trong cả nước, trong đó gần một phần tư số ca tử vong không được dự đoán sẽ xảy ra trong thời gian ngắn.
Theo báo cáo thường niên do 'Ủy ban Liên bang về Kiểm soát và Đánh giá An tử' của Bỉ công bố:
Năm 2025, tại Bỉ có 4.486 người đã kết thúc cuộc đời bằng phương pháp tự tử có sự hỗ trợ hoặc an tử, đây là con số cao nhất về số ca tử vong có sự hỗ trợ tại Bỉ trong một năm kể từ khi hình thức này được hợp pháp hóa.
Điều này chiếm 4% trong tổng số 113.217 ca tử vong xảy ra ở Bỉ vào năm 2025, đây là tỷ lệ phần trăm cao nhất trong tất cả các ca tử vong kể từ khi hình thức này được hợp pháp hóa.
Điều này cũng thể hiện mức tăng 1.809% về số ca tử vong do tự sát có hỗ trợ hoặc an tử so với 235 ca tử vong xảy ra trong năm đầu tiên luật có hiệu lực (2003).
Gần một phần tư số người (24,9%) được kết thúc cuộc sống bằng phương pháp an tử hoặc hỗ trợ tự tử không được dự đoán sẽ chết một cách tự nhiên trong thời gian ngắn, hiểu là không dự kiến sẽ chết trong những tháng tới. Nói cách khác, họ không mắc bệnh nan y.
Trước đây, những người tự kết liễu đời mình khi cái chết không được dự đoán sẽ xảy ra trong những tháng tới bao gồm những người mắc chứng trầm cảm, rối loạn căng thẳng sau chấn thương, gọi tắt là PTSD và mù lòa.
Tỷ lệ những người kết thúc cuộc đời bằng phương pháp an tử hoặc hỗ trợ tự tử mà không mắc bệnh nan y đã tăng gần gấp bốn lần, từ 6,88% năm 2004 lên 24,9% năm 2025.
Vào năm 2025, có 151 người chết do an tử hoặc tự sát có sự hỗ trợ y tế với lý do chính là “rối loạn nhận thức” hoặc “các bệnh lý tâm thần”.
Con số này đã tăng 36,04% so với năm trước.
Con số này đã tăng 169,64% kể từ năm 2018, khi có 56 người tự kết liễu đời mình vì những bệnh lý nền này.
Vào năm 2025, 92,72% số người có bệnh nền là rối loạn nhận thức hoặc bệnh tâm thần, những người đã chết do an tử hoặc tự sát có hỗ trợ, không được dự đoán sẽ chết trong những tháng tới. Nói cách khác, họ không mắc bệnh nan y.
Kể từ năm 2018, mỗi năm, hơn 90% số người có bệnh nền là rối loạn nhận thức hoặc bệnh tâm thần, những người qua đời do an tử hoặc tự sát có hỗ trợ, đều không mắc bệnh nan y.
Kể từ khi việc hỗ trợ tự tử và an tử được hợp pháp hóa ở Bỉ, hơn 42.000 người đã kết thúc cuộc đời mình theo cách này.
Số người kết thúc cuộc đời bằng phương pháp an tử hoặc tự sát có hỗ trợ trong năm 2025 đã tăng hơn gấp đôi trong thập niên qua.
Tại Anh năm 2024, nếu 4% số ca tử vong là do trợ tử như ở Bỉ, thì tổng số ca tử vong do trợ tử trong năm đó sẽ là 25.958.
Ở Bỉ, không có quy định nào yêu cầu người tìm kiếm sự hỗ trợ cái chết phải ở gần cuối đời. Luật pháp cho phép người lớn và trẻ vị thành niên được pháp luật công nhận là người trưởng thành, đang trải qua “sự đau khổ về thể chất hoặc tâm lý liên tục, không thể chịu đựng được do một bệnh lý nghiêm trọng và không thể chữa khỏi”, được kết thúc cuộc sống bằng phương pháp an tử hoặc tự sát có sự hỗ trợ.
Một sửa đổi quan trọng đối với luật vào năm 2014 đã loại bỏ giới hạn độ tuổi đối với việc hỗ trợ tự tử và an tử ở Bỉ, đưa Bỉ trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa an tử cho trẻ vị thành niên “có khả năng nhận thức”.
Số người mà cái chết tự nhiên không được dự đoán sẽ xảy ra trong thời gian ngắn (hiểu là không được dự đoán sẽ xảy ra trong những tháng tới) đã kết thúc cuộc đời bằng cách tự tử có sự hỗ trợ hoặc an tử trong năm 2025 là 1.117 người, chiếm 24,9% tổng số.
Tỷ lệ phần trăm này tăng mạnh so với năm đầu tiên mà việc hỗ trợ tự tử và an tử được hợp pháp hóa, trong đó chỉ có 6,88% số ca tử vong là những người không được dự đoán sẽ chết tự nhiên trong thời gian ngắn.
Nguyên nhân cơ bản của 77 người kết thúc cuộc đời bằng cách tự tử có sự hỗ trợ hoặc an tử là rối loạn nhận thức, trong khi nguyên nhân cơ bản của 74 người là bệnh tâm thần.
Nhìn chung, những tình trạng này không có khả năng dẫn đến cái chết tự nhiên của những cá nhân này trong thời gian ngắn; 92,72% số người có bệnh nền là rối loạn nhận thức hoặc bệnh tâm thần và chết do an tử hoặc tự sát có hỗ trợ không được dự đoán sẽ chết tự nhiên trong thời gian ngắn.
Ngoài ra, số người kết thúc cuộc đời bằng cách tự tử có sự hỗ trợ hoặc an tử vì rối loạn nhận thức hoặc bệnh tâm thần trong năm 2025 đã tăng 36,04% so với năm trước.
Phát ngôn nhân của tổ chức Right To Life UK, Catherine Robinson, cho biết: “Thật đau lòng khi nghe về số lượng người tự kết liễu cuộc đời mình ở Bỉ ngày càng tăng do hỗ trợ tự tử hoặc an tử”.
“Điều đặc biệt đau lòng là nhiều người trong số họ không chết trong thời gian ngắn như dự kiến, và một số người đã tự kết liễu đời mình do rối loạn nhận thức hoặc các bệnh lý tâm thần”.
“Những người đang chịu đựng đau khổ về thể chất hoặc tâm lý xứng đáng nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ cần thiết để giảm bớt đau khổ, đồng thời cho phép họ tiếp tục cuộc sống. Nhà nước không nên tiếp tay cho việc tự tử của họ”.
Source:Catholic Herald
4. Từ Emmaus đến phòng Tiệc Ly: Ý nghĩa của chiều Phục Sinh
Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Ngài vừa có bài viết nhan đề “From Emmaus to the Upper Room: The Meaning of Easter Evening”, nghĩa là “Từ Emmaus đến phòng Tiệc Ly: Ý nghĩa của chiều Phục Sinh”.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV được bầu chọn vào mùa Phục Sinh, và ngài bắt đầu bài diễn văn Urbi et Orbi đầu tiên của mình từ hành lang trung tâm của Đền Thờ Thánh Phêrô với lời chúc mừng Phục Sinh.“Bình an đến với tất cả anh chị em!” Đức Thánh Cha nói. “Anh chị em thân yêu, đây là lời chào đầu tiên của Chúa Kitô Phục Sinh, Mục Tử Nhân Lành, Đấng đã hi sinh mạng sống mình vì đoàn chiên của Thiên Chúa.”
Không hẳn vậy. Lời chào đầu tiên của Chúa Giêsu Phục Sinh là dành cho Maria Mađalêna và những người phụ nữ khác vào sáng Phục Sinh. Tiếp theo đó là vào chiều Chúa nhật Phục Sinh, khi Chúa Giêsu hiện ra trong phòng Tiệc Ly và chào các tông đồ, “Bình an cho các con!” (Lc 24:36; Ga 20:19).
Tuy nhiên, thật vui mừng khi Đức Thánh Cha Lêô hướng sự chú ý đến chiều Chúa nhật Phục Sinh, bởi vì chiều Phục Sinh có ý nghĩa quan trọng hơn trong đời sống của Giáo hội. Và nó thường bị bỏ qua trong phụng vụ.
Tuần Thánh rất phong phú với Lời Chúa, với các bài tường thuật về cuộc Khổ nạn được đọc vào Chúa nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh, cùng chín bài đọc Kinh Thánh cộng với các thánh vịnh và bài ca trong Đêm Canh thức Phục Sinh — chưa kể đến Lời than khóc của tiên tri Giêrêmia trong nghi thức đêm Tenebrae - đưa tín hữu đi qua “bóng tối” của tội lỗi và sự chết để chuẩn bị tâm hồn đón nhận ánh sáng phục sinh trong đêm Vọng Phục Sinh, Bảy Lời cuối cùng từ Thập tự giá, hay Lời trách móc vào Thứ Sáu Tuần Thánh, tóm tắt toàn bộ lịch sử cứu độ.
Vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh, chúng ta được nghe những đoạn Phúc Âm ngắn kể về ngôi mộ trống vào sáng sớm, và sau bữa trưa, mọi người sẽ đi ngủ trưa để có một giấc ngủ ngon lành vào ngày Chúa Nhật.
Các tường thuật về chiều Chúa nhật Phục Sinh được đọc trong Thánh lễ chiều (Luca 24), điều này khá bất thường đối với Chúa nhật Phục Sinh, hoặc phải đợi đến Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa (Gioan 20). Điều này thật đáng tiếc, xét đến tất cả những gì diễn ra vào chiều Chúa nhật Phục Sinh.
Cuộc gặp gỡ giữa hai môn đệ trên đường đến Emmaus (Luca 24:13-35) là sự hiện diện Phục Sinh chi tiết nhất, với Chúa Giêsu Phục Sinh trò chuyện lâu với các môn đệ, mặc dù họ không nhận ra Ngài. Họ thú nhận rằng họ “đã hy vọng” nơi “Giêsu người Nagiarét, là một vị tiên tri vĩ đại trong lời nói và việc làm trước mặt Thiên Chúa và mọi người”, nhưng giờ đây họ “buồn bã” sau khi Ngài bị đóng đinh và chết.
Chúa Giêsu quở trách họ một cách nghiêm khắc: “Hỡi những kẻ ngu dại và chậm tin tất cả những điều các tiên tri đã nói!” Sự quở trách dữ dội của Chúa Kitô Phục Sinh — trái ngược với lời chào đón dịu dàng dành cho Maria Mađalêna trong vườn — lại xuất hiện trong cuộc gặp gỡ với Saolô trên đường đến Đamát.
Rồi Chúa Giêsu, “bắt đầu từ Môisê và tất cả các tiên tri… đã giải thích cho họ trong toàn bộ Kinh Thánh những điều liên quan đến chính Ngài.” Khi họ đến Emmaus, Chúa Giêsu cùng ngồi ăn với họ, và họ nhận ra Ngài “trong lúc bẻ bánh.”
Emmaus là “Thánh lễ đầu tiên” như các thánh lễ chúng ta cử hành ngày nay. Đồi Canvê là “Thánh lễ” nguyên thủy và duy nhất, là sự hy sinh của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha để cứu chuộc thế giới và cứu rỗi các linh hồn. Hy tế này được hiện diện một cách bí tích trong sự báo trước tại Bữa Tiệc Ly — do đó, “Thánh lễ đầu tiên” là Thứ Sáu Tuần Thánh được hiện diện vào Thứ Năm Tuần Thánh.
Sự hy sinh trên đồi Canvê không bao giờ lặp lại mà được hiện diện lại sau sự kiện, khác với Thứ Năm Tuần Thánh, khi nó được hiện diện trước đó. Theo nghĩa này, Thánh Lễ tại Emmaus — bao gồm một “Phụng vụ Lời Chúa” trên đường đi tiếp theo là “Phụng vụ Thánh Thể” tại bàn thờ — là “ Thánh Lễ đầu tiên” mà Giáo Hội đã cử hành trong suốt lịch sử. Mỗi Thánh Lễ ngày nay, cách này cách khác, giống Emmaus hơn là giống Canvê hay Phòng Tiệc Ly.
Vào tối Chúa Nhật Phục Sinh hôm đó, trong phòng Tiệc Ly cùng với các tông đồ, Chúa Giêsu đã “mở trí cho họ hiểu Kinh Thánh”, cung cấp cho Giáo Hội sơ khai một phương tiện đáng tin cậy để hiểu các mặc khải thiêng liêng.
Trong chương thứ 20 của Phúc Âm theo Thánh Gioan, thậm chí còn nhiều điều quan trọng hơn nữa đối với đời sống của Giáo hội được gói gọn trong ít câu hơn.
“Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: ‘Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.’ Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.’” (Ga 20:20-23)
Điều này có thể được coi là sự hoàn thành của việc “phong chức” cho các thầy tế lễ đầu tiên. Mặc dù chức tư tế được thiết lập tại Bữa Tiệc Ly, nhưng rất nhiều điều được truyền tải qua những lời ngắn gọn, “Hãy làm điều này để tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22:19).
Vào chiều Phục Sinh, việc Chúa Thánh Thần thổi hơi thở gợi nhớ đến hơi thở sự sống đầu tiên được ban cho Ađam. Như Đức ông Ronald Knox đã nhận xét, khi nhận được hơi thở của Thiên Chúa trong vườn Êđen, Ađam, một con thú giữa muôn thú, trở thành con người, người ca tụng muôn vật, có khả năng dâng lời ngợi khen Thiên Chúa. Tương tự như vậy, trong phòng Tiệc Ly vào chiều Phục Sinh, khi nhận được hơi thở của Chúa Giêsu Phục Sinh, các tông đồ, những con người giữa muôn người, trở thành linh mục, được thụ phong để dâng lên lễ hy sinh ngợi khen.
Có thể cho rằng chiều Phục Sinh là “lễ phong chức” đầu tiên.
Việc “phong chức” này gắn liền ngay lập tức với “sự tha thứ tội lỗi”, cũng như trong Bữa Tiệc Ly (Mt 26:28). Chúa Giêsu, sau khi “phong chức” cho các thầy tế lễ đầu tiên, đã thiết lập bí tích hòa giải: “Nếu các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha”.
Mỗi lần rước lễ là một sự trở về với Bữa Tiệc Ly và mỗi Thánh Lễ là một sự trở về với Emmaus; cũng vậy, mỗi lần xưng tội là một sự trở về với buổi chiều Phục Sinh. Giáo Hội không bao giờ rời bỏ mầu nhiệm Phục Sinh, nếu bao gồm cả buổi chiều Phục Sinh.
Hơn nữa, buổi chiều Phục Sinh trong chương thứ 20 của Phúc Âm theo Thánh Gioan cũng có thể được coi là một “Lễ Ngũ Tuần nhỏ” — “Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần”. Thêm vào đó, nó có thể được coi là một Đại Mạng Lệnh sơ bộ — “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” — hướng đến lễ Thăng Thiên và mệnh lệnh truyền dạy việc làm môn đệ cho muôn dân.
Tất cả những điều này diễn ra vào chiều Phục Sinh tại Emmaus và trong phòng Tiệc Ly: Thánh Lễ đầu tiên, lễ phong chức đầu tiên, việc thiết lập Bí tích Giải tội, một Đại Mệnh lệnh sơ bộ, và Lễ Ngũ Tuần. Tất cả đều xứng đáng được chú trọng hơn so với thường lệ vào Chúa Nhật Phục Sinh.
“Bình an cho anh em!”
Source:National Catholic Register