Daniel B. Gallagher, giảng dạy triết học và văn học tại trường Ralston College, từng là Thư ký tiếng Latinh cho các Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô XVI và Phan-xi-cô, trong bản tin ngày 7 tháng 4 năm 2026 của The Catholic Thing, tường trình rằng: Gần văn phòng cũ của tôi trong Tông điện là Tháp Torre dei Venti, một tòa tháp thế kỷ XVI chứa đồng hồ mặt trời mà Đức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô XIII đã sử dụng để hiệu chỉnh lịch Giu-li-a-nô. Được sự trợ giúp của một nhóm các tu sĩ Dòng Tên xuất sắc, Đức Grê-gô-ri-ô đã theo dõi chuyển động của ánh sáng mặt trời trên sàn nhà để xác định thời điểm chính xác của điểm xuân phân và điểm thu phân. Điều này dẫn đến việc loại bỏ mười ngày khỏi tháng Mười năm 1582. Với rất ít ngoại lệ (Iran là một trong số đó), "lịch Grê-gô-ri-ô" đã là phương thức chuẩn để tính toán chu kỳ hàng năm kể từ đó.

Ít người biết rằng Vatican vẫn tiếp tục thu thập dữ liệu thiên văn một cách siêng năng cho cộng đồng khoa học quốc tế. Công cụ chính của nó là Kính viễn vọng Công nghệ Tiên tiến Vatican (VATT) nằm ở phía đông nam Arizona, quan sát ánh sáng trong phạm vi quang học và hồng ngoại. Trong số những khám phá đáng chú ý của VATT có các thiên thể trong thiên hà Andromeda lân cận của chúng ta được gọi là Vật thể quầng sáng dày đặc (MACHO), có thể giúp giải thích sự hiện diện của “vật chất tối” bí ẩn và gây tranh cãi giữ cho thiên hà của chúng ta gắn kết – “tối” vì nó không phát ra, hấp thụ hoặc phản chiếu ánh sáng, và do đó vô hình đối với kính viễn vọng.

Là một sản phẩm của trường công lập những năm 1970, tôi chưa từng nghe nói về Đức Grê-gô-ri-ô XIII cũng như không biết đến sự tồn tại của Đài quan sát Vatican. Giáo viên lớp bốn của tôi dạy tôi rằng Columbus đã ra khơi để chứng minh các vị vua Công Giáo đã sai khi tin rằng thế giới phẳng và Galileo bị giam cầm vì nghĩ rằng mặt trời ở trung tâm vũ trụ. Điều đầu tiên rõ ràng là sai, và điều thứ hai là một sự đơn giản hóa quá mức.

Chân dung Giáo hoàng Grê-gô-ri-ô XIII của Lavinia Fontana, khoảng năm 1585 [bộ sưu tập tư nhân]


Georges Lemaître, linh mục và nhà thiên văn học thế kỷ XX, cũng hoàn toàn xa lạ với tôi cho đến khi tôi tham gia một lớp học thiên văn học ở đại học. Cha Lemaître là người đầu tiên đưa ra giả thuyết rằng vũ trụ được hình thành từ một hạt duy nhất phát nổ tại một thời điểm xác định. Giả thuyết “nguyên tử nguyên thủy” của ngài, thường được liên kết với lý thuyết “Vụ nổ lớn [Big Bang]”, tiếp tục nổi lên như mô hình vũ trụ học tốt nhất để giải thích sự giãn nở của vũ trụ.

Tôi đã bị ám ảnh bởi việc khám phá không gian kể từ khi xem sứ vụ Apollo 17 trên truyền hình, một sự kiện mà tôi hầu như không đủ lớn để nhớ. Vì vậy, tôi đã rất hào hứng khi nghe NASA gần đây công bố kế hoạch xây dựng một căn cứ vĩnh viễn trên Mặt Trăng. Sứ vụ Artemis II, ngay cả khi bài viết này xuất hiện, đang đưa một phi hành đoàn bay vòng quanh Mặt Trăng. Nếu mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, chúng ta sẽ lại được chứng kiến con người đặt chân lên Mặt Trăng vào năm 2029.

Năm 1969, Giáo hoàng Phaolô VI đã ca ngợi sứ vụ Apollo 11 nổi tiếng vì đã mở ra “ngưỡng cửa đến không gian rộng lớn vô tận và những vận mệnh mới”. Vị giáo hoàng thánh thiện đã giao một bản sao viết tay của Thánh vịnh 8 cho các phi hành gia Armstrong, Aldrin và Collins để lại trên Mặt Trăng. Nó vẫn ở đó, lặng lẽ tuyên bố: “Con sẽ hát ca ngợi sự uy nghi của Chúa trên các tầng trời bằng miệng của trẻ thơ và trẻ sơ sinh.”

Chân dung Galileo Galilei của (tranh cãi) Francesco Apollodoro hoặc Domenico Tintoretto, khoảng năm 1602 [Bảo tàng Hoàng gia Greenwich, Anh]


Chúng ta dễ dàng quên đi xiết bao tầm quan trọng hàng đầu của việc “ca ngợi sự uy nghi của Chúa” trong đời sống Kitô giáo. “Ca ngợi,” chúng ta đọc trong Giáo lý, “là hình thức cầu nguyện nhận ra ngay lập tức rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa.” (2639) Nếu chúng ta chủ yếu biết Chúa qua các công việc của Người và ca ngợi Người qua đó, thì lời ca ngợi của chúng ta càng phải cao cả hơn khi chúng ta nhận ra sự vĩ đại của các công việc của Người.

Trong Thiên đường của Dante, Beatrice hướng ánh mắt của người hành hương lên Mặt trăng để chứng minh sự bất lực của khả năng cảm giác và trí tuệ của con người trong việc hiểu biết về Thiên đường. Ba thế kỷ sau, Galileo hướng kính viễn vọng của mình về phía Mặt Trăng và phát hiện ra nó có hình dạng bất thường và nhiều núi, điều này đã làm lung lay sâu sắc quan điểm phổ biến cho rằng Mặt Trăng hoàn toàn nhẵn mịn và phản chiếu bề mặt Trái Đất. Trong một bức thư nổi tiếng gửi cho Nữ Đại Công tước xứ Tuscany, Galileo than thở rằng những người chỉ trích ông “dường như quên rằng sự gia tăng các chân lý đã biết sẽ kích thích việc nghiên cứu, thiết lập và phát triển nghệ thuật; chứ không phải sự suy giảm hay hủy diệt chúng.”

Về chữ “nghệ thuật”, Galileo muốn nói đến tất cả những gì góp phần vào sự tiến bộ của nhân loại và khả năng thể hiện cái đẹp và cái thiện của ông. Trong tâm trí Galileo, khoa học cũng không kém phần hữu ích so với nghệ thuật trong việc tôn vinh Thiên Chúa. Trích dẫn Tertullian, ông viết rằng “Trước hết, Thiên Chúa được biết đến qua tự nhiên, và sau đó, cụ thể hơn, qua giáo lý; qua tự nhiên trong các công trình của Người, và qua giáo lý trong lời được mặc khải của Người.”

Các nhà thần học có thể tranh luận về sự tinh tế trong sự phân biệt của Galileo, nhưng chúng ta cần biết Thiên Chúa qua các công trình của Người hơn bao giờ hết. Các cuộc thảo luận về kỹ thuật ngày càng tập trung vào khía cạnh quyền lực thay vì khám phá. Doanh nhân trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, Ray Kurzweil, đang nỗ lực "cải thiện" cơ thể con người bằng cách hợp nhất nó với kỹ thuật nano để đảo ngược quá trình lão hóa. Việc phóng tên lửa lên Mặt Trăng có thể một lần nữa hướng sự chú ý của chúng ta đến việc khám phá thiên nhiên thay vì chinh phục nó – điều hoàn toàn khác với việc “chế ngự” nó. (Sáng thế 1:28)

Cha Georges Lemaitre và Albert Einstein, 1927. [nguồn: Wikimedia]


Không thể phủ nhận rằng NASA muốn quay trở lại Mặt Trăng và thiết lập căn cứ ở đó trước bất cứ ai khác. Sáng kiến “Ignition” hướng đến việc đảm bảo “vai trò lãnh đạo của Mỹ trong không gian”. “Thời gian đang trôi trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc này”, Giám đốc NASA Jared Isaacman nói, “và thành công hay thất bại sẽ được đo bằng tháng chứ không phải bằng năm”.

Nói một cách đơn giản, chính trị sẽ chi phối chương trình Artemis không kém gì chương trình Apollo vào những năm 1960. Nhưng thông điệp rút ra từ chương trình sau không phải là “chúng ta đã thắng”. Thay vào đó, nó là “Mong rằng tinh thần hòa bình mà chúng ta mang đến sẽ được phản ánh trong cuộc sống của toàn nhân loại”, như dòng chữ trên tấm bia kỷ niệm do phi hành đoàn Apollo 17 để lại trên Mặt Trăng. Chính trị không làm giảm đi tinh thần phiêu lưu và khám phá xung quanh các sứ vụ Apollo. Người Công Giáo có quyền bác bỏ các mục tiêu hiện tại của NASA như một sự lãng phí nguồn lực ngu ngốc hoặc chào đón chúng một cách nhiệt tình như chương tiếp theo trong câu chuyện về Đức Grê-gô-ri-ô XIII, Cha Lemaître và đội ngũ tuyệt vời của các tu sĩ Dòng Tên tại Đài quan sát Vatican. Maximus the Confessor đã nhận ra chiều kích vũ trụ của Phụng vụ Thánh từ thế kỷ thứ bảy. Việc tiếp tục khám phá những bí ẩn của vũ trụ chỉ có thể làm tăng thêm sự kinh ngạc của chúng ta tại Thánh lễ.