1. Giám mục người Nigeria kêu gọi chấm dứt bạo lực đám đông

Sau hàng loạt vụ giết người dã man do đám đông gây ra, một giám mục ở Nigeria đã lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ nạn bạo lực dân sự đang ngày càng gia tăng trong nước.

Trả lời phỏng vấn tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ, gọi tắt là ACN, Đức Cha Gerald Musa của Katsina lên án bạo lực đám đông, nói rằng: "Mạng sống con người là thiêng liêng - không thể có hành vi hành hình tập thể trong một xã hội văn minh".

Giám mục Musa đã nêu bật những trường hợp người bị buộc tội đã bị giết mà không qua xét xử, nhấn mạnh rằng bất kỳ ai bị buộc tội đều xứng đáng được hưởng quy trình tố tụng công bằng.

Ngài nói: "Không ai có thể bị kết tội mà không có cơ hội tự bào chữa. Nếu ai đó phạm tội, việc xét xử họ thuộc về tòa án."

Thứ Sáu tuần trước (ngày 21 tháng 8), cảnh sát bang Niger xác nhận họ đã bắt giữ bốn cá nhân bị tình nghi giết chết Sunday Pada, 30 tuổi, sau khi anh ta bị buộc tội cướp bóc.

Vụ việc này xảy ra sau một loạt các vụ giết người tập thể gây chấn động dư luận, bao gồm vụ sát hại Ummulkhairi Aliyu, một người mẹ bốn con, bị vu oan tội ăn cắp trẻ em ở bang Kaduna. Bà đang bị cảnh sát giam giữ khi bị đám đông bắt giữ và giết chết.

Kêu gọi tôn trọng pháp luật hơn nữa, Đức Cha Musa nói rằng tôn giáo không phải là nguyên nhân gốc rễ của bạo lực, nhấn mạnh đến những vấn đề xã hội sâu xa hơn ảnh hưởng đến cả người Kitô giáo và người Hồi giáo, bao gồm tham nhũng và thiếu công lý.

Ngài nói với ACN: "Chừng nào sự chú ý còn tập trung vào tôn giáo, chúng ta chưa giải quyết được các vấn đề như tham nhũng, sự bất công hay sự lạm quyền."

"Cả hai tôn giáo đều lên án tội trộm cắp, giết người và ngoại tình. Những nguyên tắc chung này sẽ giúp chúng ta xây dựng một đất nước mà tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật."

Những phát biểu của Đức Cha được đưa ra trong bối cảnh miền bắc Nigeria tiếp tục phải đối mặt với tình trạng bất ổn ngày càng gia tăng, bao gồm các vụ bắt cóc, trộm cắp gia súc và các cuộc tấn công vào các cộng đồng nông thôn.

Giám mục Musa cho biết "bắt cóc đã trở thành một ngành kinh doanh lớn và một vấn đề nghiêm trọng", đồng thời cho rằng bạo lực này xuất phát từ sự kết hợp của các lợi ích kinh tế, cạnh tranh về tài nguyên, thao túng chính trị và sự bỏ bê lâu dài đối với các khu vực nông thôn.

Ngài nói thêm rằng việc thiếu cơ hội giáo dục và việc làm cho giới trẻ cũng góp phần làm gia tăng các vụ bắt cóc.

Bất chấp những thách thức này, Giám mục Musa cho biết tại bang Katsina, nơi có khoảng 98% dân số theo đạo Hồi, mối quan hệ giữa người Kitô giáo và người Hồi giáo nhìn chung khá hòa thuận.

Ngài nói: "Có rất nhiều gia đình đa chủng tộc. Họ sống hòa bình vì tình cảm gia đình mạnh hơn sự khác biệt về tôn giáo."

Giám mục Musa cho rằng giáo dục vẫn là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thúc đẩy hòa bình và tái thiết các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi bạo lực.

Theo giám mục, các trường Công Giáo trong giáo phận có số lượng lớn học sinh Hồi giáo theo học.

Các trường học Công Giáo mở cửa đón nhận trẻ em tị nạn, hầu hết trong số đó là người Hồi giáo. Số liệu từ Tổ chức Di cư Quốc tế cho biết có gần 181.000 người tị nạn nội địa ở bang Katsina, do thiên tai hoặc các cuộc tấn công của bọn cướp gây ra.

Giám mục Musa nói: "Khi chúng ta giáo dục giới trẻ và đồng hành cùng những người đã mất tất cả, chúng ta đang gieo mầm hy vọng cho tương lai".


Source:Catholic Herald



2. Người Kitô hữu có nên thực hành Reiki không?

Tác giả Grady Connolly có bài viết nhan đề "Should Christians Practice Reiki?", nghĩa là "Người Kitô hữu có nên thực hành Reiki không?" Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Tuần này, khi đang lướt Instagram, tôi chú ý đến một video của một người sáng tạo nội dung là một Kitô Hữu. Người phụ nữ này mô tả một nghiên cứu y học gần đây báo cáo những lợi ích khoa học có thể đo lường được từ Reiki. Kết luận của cô ấy là các tín hữu Kitô nên đón nhận phương pháp chữa bệnh thay thế này như một cách để noi theo bước chân chữa bệnh của Chúa Giêsu.

Vậy Reiki là gì? Thuật ngữ Reiki xuất phát từ hai từ Rei (nghĩa là phổ quát) và Ki (năng lượng sống). Đây là một hình thức chữa bệnh bằng năng lượng của Nhật Bản, trong đó các "người chữa bệnh" tin rằng họ có thể dẫn truyền "năng lượng sống phổ quát" thông qua bàn tay của mình để mang lại sự chữa lành, giảm đau và cân bằng cho người bệnh.

Có một vấn đề cơ bản với Reiki. Chúa là đấng chữa lành duy nhất mà chúng ta cầu xin ân sủng. Đúng là các thánh và những người theo Chúa Giêsu có thể được ban cho những ơn chữa lành đặc biệt (ví dụ như Tổng lãnh thiên thần Raphael, Thánh Blaise), nhưng họ chỉ đơn giản là những kênh dẫn truyền sự chữa lành đó, chứ không phải là người trực tiếp thực hiện nó. Đó là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện thông qua sự cầu bầu của các thánh, bởi vì sự chữa lành cuối cùng đến từ Chúa. Việc Reiki truyền dẫn "năng lượng" vô định từ "vũ trụ" không phải là tìm kiếm ân sủng của Chúa, mà hoạt động dựa trên niềm tin rằng chúng ta có khả năng thao túng các quyền năng trên trời dưới đất.

Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ đã đưa ra một số hướng dẫn trong tài liệu năm 2009, "Hướng dẫn đánh giá Reiki như một liệu pháp thay thế", trong đó viết: "Cả Kinh Thánh lẫn truyền thống Kitô giáo nói chung đều không đề cập đến thế giới tự nhiên dựa trên ‘năng lượng sống phổ quát’ có thể bị thao túng bởi sức mạnh tư tưởng và ý chí tự nhiên của con người. Trên thực tế, quan điểm này có nguồn gốc từ các tôn giáo phương Đông và mang một đặc điểm nhất nguyên và phiếm thần nhất định, ở chỗ sự phân biệt giữa bản thân, thế giới và Thượng đế có xu hướng biến mất."

Các giám mục Hoa Kỳ cũng tuyên bố: "Nếu không có sự biện minh từ đức tin Kitô giáo hoặc khoa học tự nhiên, thì một người Công Giáo đặt niềm tin vào Reiki sẽ đang hoạt động trong lĩnh vực mê tín dị đoan, vùng đất không thuộc về đức tin cũng không thuộc về khoa học. Mê tín dị đoan làm tha hóa việc thờ phượng Chúa bằng cách hướng cảm xúc và thực hành tôn giáo của một người theo hướng sai lệch."

Chúng ta đừng quá vội vàng theo đuổi những phương pháp chữa bệnh theo trào lưu New Age nằm ngoài khoa học tự nhiên và giáo lý của Giáo hội. Điều này rất nguy hiểm về mặt tâm linh. Khi ai đó cầu khẩn những năng lượng tâm linh mơ hồ, thay vì cầu khẩn Chúa, các thế lực bóng tối có thể đáp lại. Các nhà trừ tà đã ghi nhận những trường hợp ma quỷ xâm nhập vào cuộc sống của ai đó vì điều này.

Nhờ những phát minh của các bác sĩ tài ba, ngày nay có rất nhiều phương pháp điều trị hiện đại. Y học dựa trên nền tảng khoa học và đạo đức, kết hợp với việc thực hành đức tin Kitô giáo, mang đến con đường an toàn hơn và chắc chắn nhiều phước lành hơn để chữa lành theo kế hoạch của Chúa.


Source:Catholic Exorcism



3. Đức Hồng Y Sarah: Sự phản đối Thánh Lễ Latinh Truyền Thống sẽ biến mất cùng với thế hệ năm 1968.

Đức Hồng Y Robert Sarah cho rằng xu hướng ác cảm đối với tiếng Latinh và thánh ca Grêgôriô trong một bộ phận của Giáo hội sẽ biến mất cùng với thế hệ đã tạo ra nó.

Trong một cuộc phỏng vấn mới Đức Hồng Y cựu tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích lập luận rằng sự phản đối phụng vụ truyền thống chỉ giới hạn trong "các nhóm văn hóa tự cho mình là trung tâm" bắt nguồn từ tâm lý hơn là thực chất. Ngài dự đoán rằng một khi thế hệ năm 1968 không còn ảnh hưởng, thì những "quan điểm phiến diện, vô căn cứ" đã làm suy giảm vị thế văn hóa của Công Giáo La Tinh cũng sẽ biến mất - một sự thay đổi mà ngài thấy sắp xảy ra đối với Thánh lễ La Tinh Truyền thống và đối với truyền thống nói chung.

Đức Hồng Y cũng đưa ra phán quyết gay gắt về những hạn chế mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô ban hành năm 2021 đối với nghi thức cũ. Ngài gọi Tự Sắc Traditionis Custodes là không khôn ngoan cũng không tôn trọng Đức Bênêđíctô XVI, là người mà ngài nói đã chấp nhận quyết định này với sự hiền lành như một con chiên ngay cả khi nó được áp đặt khi ngài vẫn còn sống. Đức Hồng Y Sarah khẳng định rằng việc tiếp cận các hình thức nghi lễ "được công nhận và sử dụng trong nhiều thế kỷ" không bao giờ có thể bị hạn chế một cách hợp pháp bằng một Tự Sắc. Và ngài lên án thẳng thừng thái độ thù địch đối với những người Công Giáo có tư tưởng truyền thống, gọi đó là "thiếu tầm nhìn", "hoàn toàn mang tính ý thức hệ" và cuối cùng là "có hại và phá hoại Giáo hội".

Dưới đây là toàn bộ cuộc phỏng vấn Đức Hồng Y Robert Sarah.

Lên tiếng chống lại những lạm dụng quá mức trong nghi lễ phụng vụ là một trong những chủ đề nổi bật của Hồng Y Robert Sarah; vì trước đây ngài từng giữ chức vụ tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Đức Hồng Y đã trở lại chủ đề này trong cuốn sách mới nhất của mình, "Bài ca của Chiên Con: Thánh nhạc và Phụng vụ Thiên đường", viết chung với Peter Carter và được nhà xuất bản Cantagalli phát hành. Nhân dịp này, ngài đã có cuộc phỏng vấn sau:

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, Ngài có tin rằng có sự ác cảm đối với thánh ca Latinh và thánh ca Grêgôriô ở một số bộ phận trong Giáo hội không?

Đức Hồng Y Sarah: Tôi thấy đây dường như là một sự ác cảm chỉ giới hạn trong một vài nhóm văn hóa tự quy chiếu – thiên về vấn đề tâm lý hơn là bản chất – và tôi nghĩ đó đơn giản chỉ là vấn đề thế hệ: một khi thế hệ năm 1968 qua đi, những quan điểm phiến diện, vô căn cứ này, làm suy giảm vị thế văn hóa của Công Giáo La Tinh, cũng sẽ biến mất theo.

Hỏi: Đức Bênêđíctô XVI tin rằng hình thức đặc biệt — hay còn gọi là Thánh lễ Latinh — có thể ảnh hưởng tích cực đến các buổi lễ theo hình thức thông thường vốn thiếu đi cảm giác thiêng liêng. Liệu ngài có đồng ý như thế không?

Đức Hồng Y Sarah: Một trong những tác động của việc nới lỏng nghi thức ngoại thường là ảnh hưởng tích cực — thậm chí tôi còn gọi đó là sự điều chỉnh — đối với những lạm dụng có thể xảy ra trong việc cử hành nghi thức thông thường. Những lạm dụng đó là những hành vi vô cùng nghiêm trọng, nhưng chúng không bao giờ được đánh đồng với chính nghi thức thông thường. Nhiều linh mục làm chứng rằng việc khám phá ra nghi thức ngoại thường đã giúp họ cử hành tốt hơn. Tôi tin rằng ý định của Đức Bênêđíctô XVI cũng phản ánh một bản năng khiêm nhường và dân chủ sâu sắc: bảo đảm sự tiếp cận rộng rãi nhất có thể với nghi thức này, để qua nhiều thập niên, dân Chúa có thể tự lựa chọn hình thức nào thể hiện tốt hơn đức tin sống động của họ. Nhưng tất cả điều đó đã bị cắt đứt bởi Tự Sắc Traditionis Custodes, khi Đức Giáo Hoàng danh dự vẫn còn sống.

Hỏi: Đức Hồng Y đánh giá điều đó như thế nào?

Đức Hồng Y Sarah: Tôi không thấy đó là một quyết định khôn ngoan hay tôn trọng. Nhưng Đức Bênêđíctô, hiền lành như một chú cừu, đã để cho mình bị hạ nhục, và trong im lặng và cầu nguyện, ngài dâng nỗi đau khổ của mình lên Chúa, để được chia sẻ tốt hơn với sự đau khổ của Chúa Kitô vì Giáo Hội của Ngài và để thanh tẩy Giáo Hội.

Hỏi: Đức Hồng Y nghĩ sao về những lời kêu gọi bãi bỏ các hạn chế?

Đức Hồng Y Sarah: Việc tiếp cận các hình thức nghi lễ được công nhận và sử dụng trong nhiều thế kỷ không bao giờ có thể bị hạn chế một cách giả tạo bằng một sắc lệnh. Nếu một nghi lễ không còn phục vụ đức tin, nó sẽ tự biến mất; nhưng nếu nó bảo tồn và nuôi dưỡng đức tin, chúng ta đừng bao giờ hạn chế nó — bởi vì làm như vậy chúng ta sẽ hạn chế sự bảo tồn và lan truyền của chính đức tin.

Hỏi: Đức Hồng Y sẽ nói gì với nhiều tín hữu vẫn trung thành với nghi thức phụng vụ cũ, những người có thể phải lái xe hàng dặm chỉ để tham dự Thánh lễ?

Đức Hồng Y Sarah: Tôi chỉ có thể ngưỡng mộ sự thể hiện sâu sắc tình yêu thương dành cho Chúa này. Hiện tượng này đang lan rộng. Nếu giới chức cao cấp chứng tỏ khả năng thực sự đọc được những dấu chỉ của thời đại hiện nay — chứ không phải những dấu chỉ của năm 1968— thì sẽ mở ra cơ hội cho một cuộc đối thoại huynh đệ và hòa bình.

Với tư cách là Giáo hội, chúng ta không thể gây chiến với những người thành kính tham dự Thánh lễ chỉ vì họ thích hình thức này hơn hình thức khác. Đó là một lập trường thiển cận, thuần túy mang tính ý thức hệ — không mang tính mục vụ, không mang tính Kitô giáo. Nó gây hại và phá hoại Giáo hội.


Source:DIANEMONTAGNA