1. Thứ Hai Tuần Thứ 5 Mùa Chay, Ngày 23 Tháng 3 Năm 2026

Đn 13:1-9, 15-17, 19-30, 33-62

Tv 22(23)

Ga 8:1-11

Rồi Ngài cúi xuống và viết trên đất lần nữa. (Ga 8:8)

Bài đọc thứ nhất và Phúc Âm đặt chúng ta vào vị trí khán giả trong những vở kịch tại tòa án, chứng kiến những chuẩn mực và truyền thống bị đảo lộn. Cả hai câu chuyện đều là những phiên tòa được dàn dựng, nơi người bị buộc tội phải phó mặc cho lòng thương xót của những người đàn ông tội lỗi. Và trong cả hai trường hợp, Chúa đều can thiệp để phán xét công bằng. Susanna bị tuyên bố có tội nhưng được chứng minh vô tội; người phụ nữ có tội nhưng được Chúa yêu thương tha thứ.

Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đaniên trở thành người bào chữa, người bảo vệ, người nói lên sự thật và là công cụ của công lý thiêng liêng cho Susanna. Chúa Giêsu, Ngôi Hai của Ba Ngôi, trở thành người bào chữa, người bảo vệ, người bày tỏ chân lý và người ban lòng thương xót cho người phụ nữ phạm tội ngoại tình. Chúa Giêsu là Đaniên mới, hoàn thành Luật Môi-se và mang đến sự cứu rỗi.

Cả hai câu chuyện đều cho thấy một Thiên Chúa thực sự nhìn thấu chúng ta. Ngài nhìn thấy sự vô tội ẩn dưới những lời dối trá, Ngài nhìn thấy những vết thương ẩn dưới tội lỗi, và Ngài nhìn thấu tận đáy lòng đầy sợ hãi và phán xét. Trong khi chúng ta thường phán xét quá nhanh, quá khắc nghiệt hoặc quá chọn lọc, thì Thiên Chúa lại nhìn thấy một cách hoàn hảo và chọn cách cứu rỗi.

Những người đàn ông cầm đá đứng đối diện với Chúa Giêsu, nhưng họ không thể nhìn thấy. Hãy chú ý rằng Chúa Giêsu không hề bảo họ rời đi. Lời Ngài là: “Nếu ai trong các ngươi không phạm tội, hãy ném đá vào người phụ nữ này trước” (Ga 8:7). Từng người một, họ bỏ đi. Nếu họ biết về tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa Giêsu, có lẽ họ đã có đủ can đảm để đứng bên cạnh người phụ nữ ấy, một tội nhân khác đang cần một Đấng Cứu Thế. Tôi cầu nguyện rằng tất cả chúng ta đều có được ân sủng đó.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con đến gần ngai ân sủng và can đảm một lần nữa cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, xin thương xót con, là kẻ tội lỗi.” Amen.

Peter Gilmore


Source:VietCatholic

2. Lãnh đạo Chính thống giáo Georgia qua đời ở tuổi 93.

Đức Thượng phụ Giáo chủ Ilia II đã lãnh đạo Giáo hội của mình trong gần năm thập niên và thúc đẩy phần lớn sự đổi mới của Giáo hội và xã hội sau thời kỳ cộng sản.

Đức Giáo chủ Ilia II của Giáo hội Chính thống giáo George, người được ghi nhận rộng rãi vì công cuộc phục hưng Giáo hội sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, đã qua đời vào ngày 17 tháng 3. Ngài thọ 93 tuổi.

Khi những lời chia buồn liên tục đổ về nước cộng hòa ở vùng Caucasus, thi hài của Đức Thượng Phụ đã được chuyển đến Nhà thờ Chính tòa Chúa Ba Ngôi ở Tbilisi. Chính phủ Georgia tuyên bố quốc tang và ra lệnh treo cờ rủ. Hội đồng Giám mục của Giáo hội Chính thống Georgia quyết định rằng Đức Thượng Phụ sẽ được an táng vào ngày 22 tháng 3 tại Nhà thờ Sioni, theo nguyện vọng mà ngài đã bày tỏ với gia đình.

Vị giáo chủ được bầu chọn vào ngày 25 tháng 12 năm 1977 và lãnh đạo Giáo hội Chính thống giáo của quốc gia khi đó đang bị đàn áp dưới chế độ Xô Viết. Khi hệ thống Xô Viết mất dần ảnh hưởng vào cuối những năm 1980, Giáo hội Chính thống giáo Georgia đã trở lại và trở thành một thế lực quan trọng trong đời sống của người dân Georgia. Sự phục hưng càng được đẩy mạnh sau khi Georgia tuyên bố độc lập vào năm 1991. Các nhà thờ trên khắp đất nước được mở cửa trở lại, các công trình mới được thánh hiến, và các học viện thần học và chủng viện được thành lập.

Nhưng ảnh hưởng của vị giáo chủ cũng lan rộng đến xã hội dân sự. Ngài kêu gọi các lãnh đạo Giáo hội cung cấp chỗ ở và chăm sóc cho trẻ em và thanh thiếu niên vô gia cư. Ngài yêu cầu nhà điêu khắc và nghệ sĩ tráng men David Kakabadze hồi sinh nghệ thuật tráng men cloisonné đang dần mai một của Georgia — và sau đó dạy nghệ thuật này cho một tu viện của các nữ tu, từ đó nó lan rộng. Vị giáo chủ kiêm thượng phụ cũng tài trợ cho một trường học mới về thánh ca và nhạc dân gian tại Nhạc viện Tbilisi.

Đức Thượng phụ Đại kết Bácthôlômêô I, trong lời chia buồn về sự ra đi của vị Thượng phụ-giáo chủ, đã gọi Đức Thượng Phụ Ilia II là “người anh em và người cùng tế lễ”, bày tỏ nguyện vọng cầu nguyện rằng ký ức về ngài sẽ mãi “bất diệt và không bao giờ bị lãng quên”.

Tại Washington, Đức Tổng Giám Mục Tikhon của Giáo hội Chính thống giáo tại Mỹ đã gửi lời chia buồn tới Giáo hội Georgia, ca ngợi cuộc đời của Đức Thượng Phụ Ilia “như một minh chứng sâu sắc về lòng trung thành, sự kiên trì và tình yêu thương mục vụ. Trong nhiều thập niên, ngài đã dẫn dắt Giáo hội Georgia vượt qua những thời kỳ thử thách và đổi mới lớn lao, gìn giữ sự thống nhất, củng cố chứng ngôn và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của các tín hữu. Sứ vụ của ngài đã mang lại những thành quả lâu dài không chỉ ở Georgia mà còn trên toàn thế giới Chính thống giáo, nơi ngài được công nhận rộng rãi như một người cha trong số các vị giáo sĩ và một người kiên định bảo vệ đức tin Chính thống giáo.”

“Suốt cuộc đời mình, Đức Thượng Phụ đã nêu gương cho Tin Mừng mà ngài rao giảng,” Đức Tổng Giám Mục Tikhon nói.

Thủ tướng Georgia Irakli Kobakhidze ghi nhận khả năng tha thứ của vị lãnh đạo giáo hội quá cố và nói rằng trong gần năm thập niên lãnh đạo của mình, “ngài vẫn là nhà lãnh đạo tinh thần của quốc gia và là biểu tượng của sự đoàn kết.”

Trong chuyến thăm Georgia năm 2016, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gặp gỡ Đức Thượng Phụ Ilia, người đang di chuyển rất khó khăn do căn bệnh Parkinson đã hành hạ ngài trong những năm cuối đời.

Trong chuyến thăm, Đức Thượng Phụ đã hết lời ca ngợi cuộc đối thoại và hợp tác thiết thực giữa Công Giáo và Chính thống giáo, đồng thời nói với Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “Đây thực sự là một chuyến thăm lịch sử. Xin Chúa ban phước lành cho hai Giáo hội của chúng ta.”


Source:CNEWA

3. Đức Hồng Y Pizzaballa chỉ trích Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth lạm dụng Thánh Vịnh để biện minh cho chiến tranh

Bài phát biểu của Đức Thượng phụ Giêrusalem tại một hội thảo trực tuyến do Tổ chức Oasis tổ chức: “Trong những thập niên xung đột này, chúng ta đã thấy bạo lực đã tạo ra điều gì: chỉ thêm nỗi sợ hãi, oán hận và thù ghét. Chúng ta biết rằng lời kêu gọi của Giáo hoàng Lêô XIV sẽ không được lắng nghe, nhưng chúng ta phải nói tiếp lên sự thật. Thông tin là một vũ khí trong cuộc xung đột này. Gaza đã bị lãng quên, nhưng tình hình vẫn rất tồi tệ. Ở Bờ Tây, hầu như ngày nào cũng có các cuộc tấn công của những người định cư nhằm vào người Palestine.”

“Việc lạm dụng và xuyên tạc danh xưng của Chúa để biện minh cho cuộc chiến này và bất kỳ cuộc chiến nào khác là tội lỗi nghiêm trọng nhất mà chúng ta có thể phạm phải vào thời điểm này. Chiến tranh trước hết là chính trị và có những lợi ích vật chất rất rõ rệt, giống như hầu hết các cuộc chiến khác. Chúng ta phải làm mọi thứ có thể để không để lại chỗ cho thứ ngôn ngữ giả tôn giáo này, thứ ngôn ngữ không nói về Chúa, mà là về chính chúng ta”.

Đức Hồng Y Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Latinh của Giêrusalem, đã phát biểu điều này tối 15 Tháng Ba, khi nói chuyện từ Thánh Địa Giêrusalem tại một hội thảo trực tuyến do Tổ chức Oasis Quốc tế tổ chức tại Ý về cuộc xung đột đang tàn phá Trung Đông. Khi được hỏi về những lời của Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth, người trong một cuộc họp báo đã trích dẫn Thánh vịnh 144 để cầu xin ơn phước của Chúa cho cuộc tấn công đang diễn ra, Đức Hồng Y Pizzaballa trả lời rằng “là những người có đức tin, chúng ta phải làm mọi điều có thể để không để họ nắm quyền diễn thuyết. Chúng ta cần phải nói rằng không, không có cuộc thập tự chinh mới nào cả. Nếu Chúa hiện diện trong cuộc chiến này, Ngài ở giữa những người đang chết, đang đau khổ, đang chịu đựng, đang bị áp bức dưới nhiều hình thức khác nhau, trên khắp Trung Đông – tôi không nói là ở một bên hay bên kia. Cuộc xung đột này có ý nghĩa tôn giáo, nhưng đó là những sự thao túng: những người muốn đưa tôn giáo vào đó đang lợi dụng danh nghĩa của Chúa.”

Bình luận thêm về lời kêu gọi được Đức Giáo Hoàng Lêô đưa ra một lần nữa ngày hôm qua, Đức Thượng phụ Giêrusalem nói: “Trong những thập niên xung đột này, chúng ta đã thấy bạo lực đã gây ra những gì, sự tàn phá nhân loại mà chúng ta đang phải đối mặt. Cái gì được xây dựng trên bạo lực sẽ diệt vong; nó không có tương lai, nhưng nó cũng tạo ra một khoảng trống xung quanh chính nó: sợ hãi, oán hận, thù ghét – tất cả những gì, theo ngôn ngữ Kitô giáo, thuộc về thế giới của cái chết. Nó không cho phép bạn nhìn thấy bất cứ điều gì vượt ra ngoài bản thân mình.” “Chúng ta biết rõ rằng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng là rất đúng, nhưng cũng biết rằng nó sẽ không được ai lắng nghe,” Đức Hồng Y Pizzaballa nói thêm một cách cay đắng. “Nhưng Giáo hội có ích gì nếu không nói về một thực tại chưa tồn tại? Chúng ta phải nói tiếp những điều này, những điều có vẻ xa vời, nhưng chúng ta tin tưởng vì chúng là sự thật. Chúng ta cũng cần phải đoàn kết lại, để biết chúng ta có thể tin tưởng và đầu tư vào ai cho tương lai.”

Trong buổi gặp gỡ với Tổ chức Oasis, Hồng Y cũng đã có những lời lẽ mạnh mẽ về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến này: “Truyền thông,” ngài nói, “là một phần của cuộc xung đột; đó là cách để cho mọi người biết về nó, nhưng cũng là cách để biện minh cho nó, để làm cho nó được chấp nhận. Vì vậy, vai trò của các nhà báo không chỉ đơn thuần là đưa tin, mà còn là xem xét kỹ lưỡng một cách phê phán, giúp người đọc hiểu được những gì chúng ta tìm thấy, cung cấp một cách giải thích chính xác nhất có thể, hoặc ít nhất là giúp họ hình thành một quan điểm phê phán và đưa ra phán đoán của riêng mình.”

Về vấn đề này, ngài nhấn mạnh tình trạng bưng bít thông tin hiện đang bao trùm Gaza và Bờ Tây. “Gaza không còn được nhắc đến nữa, nhưng tình hình vẫn rất tồi tệ từ góc độ nhân đạo”, Đức Hồng Y Pizzaballa, người thường xuyên liên lạc với giáo xứ Thánh Gia, giải thích.

Vấn đề đói nghèo không còn nữa, nhưng vẫn còn 2 triệu người phải di dời, mất hết mọi thứ; 80% Dải Gaza vẫn bị tàn phá, và công cuộc tái thiết vẫn chưa bắt đầu; 36 bệnh viện hoạt động một phần, nhưng thiếu thuốc men, ngay cả thuốc kháng sinh cơ bản cũng không có. Người dân sống trong cống rãnh; hình ảnh không thể diễn tả được mùi hôi thối. Thật khó hiểu khi nào và bằng cách nào tình hình bi thảm này sẽ được giải quyết: Hội đồng Hòa bình vẫn chưa biết mình nên làm gì. Và dù sao đi nữa, đó cũng là một vòng luẩn quẩn: nếu Hamas không giao nộp vũ khí, Israel sẽ không rút quân; Hamas sẽ không giao nộp vũ khí trừ khi Israel rút quân. Mọi thứ vẫn bế tắc.

“Về Bờ Tây,” ngài nói thêm, “tình hình đang ngày càng xấu đi: hầu như mỗi ngày đều có các cuộc tấn công của người định cư vào các làng mạc của người Palestine. Hiện nay có gần một ngàn trạm kiểm soát; người Palestine vẫn phải vật lộn để đi lại, và các giấy phép phần lớn đã bị hủy bỏ.” Cuối cùng, Đức Thượng phụ cũng bày tỏ lo ngại về hậu quả của hai biện pháp gần đây liên quan đến việc ghi danh đất đai và việc không công nhận bằng cấp học thuật của người Palestine tại Israel, được chính phủ Israel thông qua gần đây: “Hãy nhớ rằng ở nhiều khu vực của người Palestine, tài sản không được ghi danh; chúng vẫn còn liên quan đến chính quyền cũ trước năm 1967, vì vậy mọi việc rất phức tạp”. Về vấn đề khác trong các trường học của chúng tôi, chúng tôi có 232 giáo viên Kitô giáo đến từ Bethlehem, vì chúng tôi không có giáo viên nào cho Giêrusalem. Họ sẽ không thể đến nữa. Và điều này không chỉ gây khó khăn về tài chính cho gia đình họ mà còn cho các trường học vì họ sẽ không thể tìm được giáo viên Kitô giáo. Và đây chỉ là hai ví dụ để minh họa tình hình vẫn còn phức tạp như thế nào đối với tất cả chúng tôi.”


Source:ASIA News

4. Quyết định đóng cửa Nhà thờ Mộ Thánh (và tất cả các địa điểm linh thiêng) ở Giêrusalem

Việc đóng cửa Nhà thờ Mộ Thánh (và tất cả các địa điểm linh thiêng) ở Giêrusalem có “giá trị biểu tượng mạnh mẽ” và “nói lên nhiều điều về thực trạng hiện tại”, trong đó “người dân không thể di chuyển dễ dàng” do “chiến tranh, các báo động liên tục, tiếng còi báo động và sự chen chúc tìm nơi trú ẩn”, Đức Cha Rafic Nahra, Giám Mục Phụ Tá của Tòa Thượng phụ Latinh Giêrusalem, gọi tắt là LPJ và đại diện của Tòa Thượng phụ tại Israel từ năm 2021, cho biết.

Đức Cha đã nói chuyện với AsiaNews về tình hình hiện tại hơn hai tuần sau khi cuộc chiến mới với Iran bắt đầu, diễn ra sau “cuộc chiến 12 ngày” hồi tháng 6 năm ngoái.

Nhà thờ Mộ Thánh “phản ảnh tình hình này”, ở chỗ nó đại diện cho “một hình thức chết mà mọi người đang trải qua”, Đức Cha nói, khi họ chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra “trong Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh. Trước đó cũng có Lễ Vượt Qua; chúng ta sẽ chờ xem phải hành động như thế nào.”

Đại dịch chiến tranh

Cuộc sống thường nhật ở Israel ngày nay dường như phản ánh những gì đã xảy ra trong đại dịch COVID-19, khi người dân buộc phải dành phần lớn thời gian ở nhà hoặc trong các nơi trú ẩn, việc học hành bị gián đoạn.

Giám mục Nahra nói: “Người dân của chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc đối phó với toàn bộ chuỗi sự kiện này; kể từ năm 2020, với virus corona, mọi thứ đã dừng lại. Hai năm đầu là do đại dịch, sau đó chúng tôi đã có gần một năm cuộc sống bình thường trước khi chiến tranh ở Gaza nổ ra. Giờ đây, giai đoạn khốc liệt nhất (của cuộc chiến đó) dường như đã qua, thì cuộc chiến khác với Iran lại gây ra tác động rất nghiêm trọng.”

Vị giám mục bày tỏ sự cảm thông “với các em nhỏ, những người, ngoại trừ một số ít trường hợp, đã học trực tuyến qua Zoom kể từ năm 2020. Các em dành phần lớn thời gian học trên màn hình, và đó không phải là một phương pháp hữu hiệu (về lâu dài), đặc biệt là đối với các em nhỏ nhất,” mặc dù điều tương tự “cũng áp dụng cho người lớn.”

“Thiếu sự liên lạc với bạn bè, thầy cô và bạn học,” vị giám mục giải thích, vì vậy “về mặt con người, đây là một thời điểm rất khó khăn.” Đó là lý do tại sao, đặc biệt trong Mùa Chay, “mọi người cầu nguyện rất nhiều. Chúng tôi đã nhận thấy điều này kể từ khi chiến tranh ở Gaza bắt đầu. Ở tất cả các giáo xứ, không chỉ một số, các linh mục sốt sắng có thể thu hút được tín hữu.”

Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh, cuối cùng “Chính người dân muốn đến thường xuyên hơn, cầu nguyện sốt sắng hơn. Tất cả các giáo xứ, không có sự khác biệt lớn, đều chật kín, ngay cả người trẻ. Sống gần Vương cung thánh đường Na-da-rét, bản thân tôi thấy rất nhiều người trẻ đến tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ trong lời cầu nguyện, nơi Chúa, và một nơi nương náu trong Giáo hội.”

Giám mục Nahra nói thêm: Tòa Thượng phụ Latinh hoan nghênh dòng người này “biết rằng hiện nay, với chiến tranh, việc tụ họp không dễ dàng, và có những giới hạn về số lượng người” mà người ta có thể gặp gỡ.

Ngài giải thích: “Chúng tôi đang rất cẩn thận, nhưng đồng thời, chúng tôi không yêu cầu họ ở nhà, bởi vì cũng giống như các siêu thị đang chật kín người dân tìm kiếm nhu yếu phẩm vật chất, việc các nhà thờ mở cửa để cung cấp sự nuôi dưỡng và an ủi tinh thần cũng quan trọng không kém.

“Mối quan hệ với Chúa, giống như thức ăn, cũng rất quan trọng, đó là lý do tại sao chúng tôi chào đón họ trong khi vẫn tôn trọng các quy định.”

Thảm kịch nhân đạo

Hôm qua, Bộ Giáo hội Đông phương đã đưa ra lời kêu gọi thay mặt cho Quỹ quyên góp cho Kitô hữu ở Thánh Địa, một sáng kiến thiết yếu để hỗ trợ cuộc sống của một cộng đồng, hơn những cộng đồng khác, phụ thuộc vào các cuộc hành hương và du lịch tôn giáo, và đang phải gánh chịu hậu quả của chiến tranh.

“Bắt đầu từ Gaza, ngay cả khi không còn được nhắc đến nhiều nữa, tình hình vẫn không thay đổi và vẫn bi thảm, với việc Israel chặn nhập khẩu các nhu yếu phẩm cơ bản vì Hamas được tường trình đang áp đặt thuế.”

“Chúng tôi cố gắng giúp đỡ mọi người nhiều nhất có thể, để mọi người có thể có thức ăn và thuốc men,” vị giám mục nói, nhưng thực tế ở vùng lãnh thổ này “thật thảm khốc.” Ngay cả ở Bờ Tây, cũng có những vấn đề nghiêm trọng, bởi vì họ không thể đến làm việc ở Israel trong khi chi phí sinh hoạt đang tăng vọt, vì chi phí chiến tranh phải được trả bằng cách này hay cách khác.”

Hơn nữa, một số khu vực dễ bị tổn thương hơn trước các cuộc tấn công hỏa tiễn của Iran hoặc của Hezbollah ở Li Băng, chẳng hạn như Tel Aviv hoặc phía bắc đất nước. Ở đây, họ “dễ bị tấn công hơn, và không thể làm việc một cách hòa bình và các vấn đề nghiêm trọng hơn.”

Cảnh quan bị chiến tranh tàn phá này cũng bao gồm bạo lực của những người định cư Do Thái ở các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm, được hỗ trợ và giúp đỡ bởi chính phủ cánh cực hữu do Thủ tướng Benyamin Netanyahu lãnh đạo, bao gồm cả các bộ trưởng ủng hộ việc định cư.

Taybeh là một trong những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Thị trấn duy nhất hoàn toàn theo Kitô giáo ở Bờ Tây đã chứng kiến “một cuộc tấn công mới của những người định cư ở khu vực phía tây”, theo lời Cha Bashar Fawadleh, linh mục giáo xứ địa phương.

“Họ nhắm vào tài sản công cộng, bao gồm một nhà máy xi măng và một mỏ đá. Họ cũng treo cờ Israel trên các bể chứa của nhà máy trong một hành động khiêu khích khiến người dân tức giận”, cha nói với AsiaNews.

Trong bối cảnh chiến tranh và bạo lực của những người định cư, những tiếng nói hòa bình yếu ớt cũng đang được lắng nghe, bằng chứng là một bức thư ngỏ được công bố hôm qua bởi 80 tổ chức Do Thái và Ả Rập của Israel kêu gọi Netanyahu và Tổng thống Donald Trump “chấm dứt chiến tranh với Iran”.

Các tổ chức ký tên vào bức thư là một phần của liên minh “Đã đến lúc”, một liên minh rộng lớn vì hòa bình và hòa giải ở Israel. Vào ngày 30 tháng 4, liên minh sẽ tổ chức một hội nghị thượng đỉnh vì hòa bình cấp cơ sở tại Tel Aviv, sự kiện phản chiến lớn nhất được lên kế hoạch ở Israel trong năm 2026.

Giám mục Nahra lưu ý: “Điều quan trọng là các nhà hoạt động và các nhóm xã hội dân sự phải lên tiếng vì hòa bình”, đáp lại “tiếng trống chiến tranh đang vang vọng khắp nơi xung quanh chúng ta.”

“Tất nhiên, các chính trị gia không quyết định bằng cách lắng nghe những lời kêu gọi này, nhưng dù sao chúng ta cũng phải làm cho tiếng kêu của những người nói 'đủ rồi' với chiến tranh được lắng nghe, nếu không, ấn tượng cho rằng mọi người đều đồng ý với việc leo thang quân sự sẽ chiếm ưu thế.”

Chữa lành vết thương

“Ít người nói về hòa bình” hoặc “nhấn mạnh chiến tranh là xấu như thế nào, vì quan điểm chung của người Do Thái, hoặc ít nhất là người Do Thái Israel, là coi Iran là mối đe dọa hiện hữu.”

Mặc dù không phải ai cũng đồng ý “với cách thức tiến hành cuộc chiến này,” quan điểm phổ biến là “coi đó là một nghĩa vụ, cần phải tự vệ trước khi họ tấn công.” Đây là quan điểm chung của cộng đồng người Do Thái ở Israel.

Trong khi đó, đất nước đang trải qua những ngày khó khăn, với phi trường gần như đóng cửa, rất ít người được phép rời đi, thiệt hại lan rộng, dù không được bàn luận rộng rãi, với nhiều người chết và bị thương. Rõ ràng tình hình rất nguy kịch và chiến tranh là một thảm họa đối với tất cả mọi người.

Rồi còn vấn đề bạo lực trong cộng đồng người Ả Rập ở Israel, một nhóm thiểu số khoảng 20% so với đa số người Do Thái là 80%, nơi số vụ giết người đang gia tăng.

“Đây là một con số khủng khiếp, dù hiện nay ít được nhắc đến hơn chính vì cuộc chiến với Iran, nhưng cho đến một tuần trước, số người bị sát hại kể từ đầu năm đã lên tới 59 người”, vị linh mục phụ trách giáo xứ cho biết.

Ngài giải thích: “Có một vấn đề trong xã hội Ả Rập, và chúng ta cần phải nỗ lực trong giáo dục và văn hóa. Cảnh sát cũng phải làm tròn bổn phận của mình. Không đủ chỉ nói rằng người Ả Rập bạo lực; chúng ta phải giải quyết vấn nạn bạo lực này và bảo vệ những người vô tội, những người chiếm đa số.” Hơn nữa, “ở mức độ tổng quát hơn, có điều gì đó không ổn trong cả nước, và hiện tại, chính phủ cực hữu hiện tại không giúp giảm bạo lực và hàn gắn vết thương.”

Khi Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh đến gần, nhu cầu cử hành, lắng nghe Chúa Giêsu càng trở nên cấp thiết hơn, khi Người nói rằng Người “đến để làm ánh sáng trong bóng tối. Chúng ta phải tìm thấy ánh sáng trong mối quan hệ của mình với Chúa Kitô, trong các bí tích, trong sự hỗ trợ lẫn nhau, trong việc khơi dậy thông điệp Phục Sinh với sự khẩn thiết hơn bao giờ hết. Và chúng ta phải giúp mọi người duy trì đức tin và niềm hy vọng của họ.”