Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
Hiệu ứng Phanxicô và biến cố Caserta
Vũ Văn An30/07/2014
Đức Phanxicô làm nhiều người ngạc nhiên và ngỡ ngàng khi gặp mục sư Giovanni Traettino và cộng đoàn Ngũ Tuần của ông tại Caserta vào hôm thứ Hai, 28 tháng 7 vừa qua. Nhận xét về biến cố này, Phil Lawler cho rằng Đức Phanxicô đã thay đổi cung cách thế giới nhìn ngôi vị giáo hoàng.

Thực vậy, không cần chờ cuộc cải tổ nghiệp vụ truyền thông tại Vatican, một cuộc cải tổ vừa được phát động với việc đề cử cựu tổng toàn quyền Hồng Kông của Anh làm phối trí viên, và như thế, mới đang ở giai đoạn đặt kế sách, biến cố Caserta cho thấy Vatican đã thay đổi cung cách xử lý tin tức rồi.

Chỉ cần nhìn cung cách đưa tin của Sở Thông Tin Vatican (VIS) về biến cố này cũng đủ chứng minh nhận định trên. Song song với việc tường trình các phát biểu của Đức Phanxicô tại Caserta, một điều dĩ nhiên VIS phải làm, cơ quan này cũng đã tường trình đầy đủ không kém các phát biểu của chủ nhà là mục sư Giovanni Traettino.

Lawler cho rằng ông đã đọc các bản tin của VIS cả 20 năm nay và thấy rằng trong suốt 20 năm này, khi nào Đức Giáo Hoàng là một trong hai hay ba diễn giả tại một biến cố công cộng, Vatican ít khi nào nhắc tới các diễn giả kia; tập chú bao giờ cũng chỉ là Đức Giáo Hoàng. Bài diễn văn của Thượng Phụ Đại Kết Constantinople hay của Đức HY Quốc Vụ Khanh may ra được tóm lược, nhưng không bao giờ đầy đủ như bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng. Nhưng ở đây, sở thông tin Vatican đã cung cấp một tóm lược hết sức chi tiết bài nói của vị mục sư Ngũ Tuần.

Tường thuật của tờ L’Osservatore Romano cũng thế, dành cùng một không gian cho các nhận xét của Đức Phanxicô và của mục sư Traettino. Lawler cho rằng không phải vì Vatican đã sa vào chủ nghĩa dửng dưng tôn giáo, đặt vị mục sự Thệ Phản ngang hàng với Đức Giáo Hoàng. VIS là một cơ quan đưa tin, phục vụ các nhà báo. Lời tuyên bố của Đức Giáo Hoàng đương nhiên có thế giá hơn lời tuyên bố của một mục sư Thệ Phản, nhưng nó không nhất thiết phải có giá trị hơn về phương diện tin tức. Hiển nhiên, VIS muốn lưu ý tới lời lẽ Mục Sư Traettino chào mừng Đức Giáo Hoàng.

Phương thức đưa tin như trên, theo Lawler, cũng cho thấy một thay đổi đáng kể trong cung cách các viên chức Vatican quan niệm chức vụ giáo hoàng, một thay đổi mà chính Đức Phanxicô hết sức cố gắng cổ vũ. Phương thức “cũ” coi Đức Giáo Hoàng như nhà quân chủ thế kỷ 18, và muốn gợi ý để mọi người thấy: khi ngài có mặt ở đâu, mọi người khác phải biến thành vô nghĩa. Phương thức “mới” coi Đức Giáo Hoàng như một con người bình thường, tuy đang lãnh trách nhiệm phi thường và một thẩm quyền lớn lao, nhưng cũng đang nói chuyện với những con người khác rất có thể có những điều lý thú để nói.

Rõ ràng Đức Giáo Hoàng đang phát động chiến dịch nhắc nhở thế giới, và dĩ nhiên cả các phụ tá của ngài tại Vatican, nhớ rằng: Giám Mục Rôma không phải là nhà chuyên chế thế tục, và thẩm quyền thiêng liêng của ngôi vị giáo hoàng không được ngụy trang bởi những mũ áo cân đai của nền quân chủ lỗi thời. Sứ điệp này đang bắt đầu được lắng nghe và thi hành.

Cần một điển hình khác? Lawler cho rằng điển hình khác này cũng đã xẩy ra tại Caserta khi Đức Phanxicô gặp gỡ các linh mục của giáo phận. Tường trình của Đài Phát Thanh Vatican có kèm theo một bức hình: Đức Phanxicô ngồi bên cạnh Đức Cha Giovanni D’Alise, giám mục Caserta, chứ không ngồi trên ngai hay trên một chiếc ghế cao hơn. Ngài ngồi bên cạnh vị giám mục anh em như bất cứ ai khác cùng ngồi với đồng nghiệp trong một cuộc họp công vụ. Hết sức tự nhiên. Nhưng không hề tự nhiên trong hơn 20 năm qua. Lawler cho rằng trong các năm này, người ta không bao giờ thấy một sắp xếp chỗ ngồi giống như thế khi có sự hiện diện của Giám Mục Rôma.

Xin lỗi thay cho các anh chị em Công Giáo thiếu hiểu biết

Theo tin Zenit ngày 29 tháng 7, hôm Thứ Hai vừa qua, tại Caserta, miền Nam nước Ý, Đức Phanxicô đã xin lỗi người Ngũ Tuần thay cho các người Công Giáo từng bách hại họ trong quá khứ, vì thiếu hiểu biết; đồng thời kêu gọi hợp nhất trong đa dạng.

Sau khi gặp riêng người bạn lâu năm của mình là Mục Sư Giovanni Traettino, Đức Phanxicô đã nói chuyện với khoảng 200 người, phần lớn là Ngũ Tuần đến từ Ý, Mỹ và Á Căn Đình. Ngài bảo: cuộc đối thoại đại kết cần được tiếp tục bất kể một số người Công Giáo tìm cách trì hoãn nó.

Trong một bầu khí vui tươi và thân mật, Mục Sư Traettino nói với bạn mình là Đức GH Phanxicô rằng :Với những người như ngài, người Kitô hữu chúng tôi có nhiều hy vọng”.

Đáp lời Mục Sư Traettino rằng “sự hiện diện của Chúa Giêsu và việc bước đi trước nhan Người phải là tâm điểm đời ta”, Đức Phanxicô cho hay “Việc bước đi ấy chính là giới răn thứ nhất của Thiên Chúa truyền cho dân Người, được đại diện bởi Ápraham: ‘hãy trung thành bước đi trước mặt Ta và hãy vô tì vết!’”

Ngài nói tiếp: “tôi không hiểu được việc một Kitô hữu đứng im! Tôi không hiểu được việc một Kitô hữu mà lại không muốn bước đi! Kitô hữu là phải bước đi, vì nếu họ đứng im, họ làm sao tiến lên phía trước được, chắc chắn sẽ trở thành hủ hóa”.

Đức Giáo Hoàng bảo rằng: khi ta bước đi trước nhan Thiên Chúa, ta sẽ tìm được tình huynh đệ. Còn nếu thay vào đó mà dừng lại, mà dò xét lẫn nhau, mà hành tỏi nhau, ta sẽ chia rẽ Giáo Hội.

Đức Phanxicô quan niệm rằng hành tỏi bắt đầu từ giây phút đầu tiên Giáo Hội bị chia rẽ. Chúa Thánh Thần không tạo ra chia rẽ, Người chỉ tạo ra đa dạng trong Giáo Hội, “một đa dạng phong phú và tươi đẹp”.

Cùng với đa dạng, Chúa Thánh Thần cũng dựng nên hợp nhất. Do đó, không những “Giáo Hội là một trong tính đa dạng của mình” mà còn có sự hợp nhất “với nhiều thành phần khác nhau, mỗi phần với tính đặc thù và đặc sủng của mình”. Ngài nói thêm: “Đây là sự hợp nhất trong đa dạng. Đây là con đường các Kitô Hữu cần đi, khi cho nó cái tên thần học là đại kết”.

Khi ghen tương và đố kị chia rẽ ta, ta phải trì chí trên con đường tiến tới hợp nhất này. Ngài nói: “một số những người ban hành các đạo luật này, và một số những người bách hại, tố cáo các anh em Ngũ Tuần là vì họ ‘quá hứng chí’, gần như ‘điên loạn’, chính họ làm hỏng cuộc thi đua”

Rồi Đức Phanxicô tỏ lời xin lỗi: “Tôi là một mục tử của người Công Giáo, nên tôi xin lỗi về việc này. Tôi xin lỗi nhân danh các anh chị em Công Giáo thiếu hiểu biết và bị ma qủy cám dỗ. Tôi cầu xin Chúa ban ơn biết nhìn nhận và tha thứ”.

Đức Phanxicô nói thêm: “Chúng ta đang trên đường hợp nhất giữa anh em. Một số người sẽ ngạc nhiên nói ‘Đức Giáo Hoàng đi với người Tin Mừng! Ngài đi gặp anh em của ngài! Đúng! Vì, sự thật là họ đã đến với tôi trước, tại Buenos Aires. Và do đó, tình bạn này đã bắt đầu, sự gần gũi giữa các mục tử của Buenos Aires, và hôm nay ở đây”.

Sau đó, ngài cám ơn cộng đoàn và xin họ cầu nguyện cho ngài vì ngài rất cần lời cầu nguyện của họ.

Ngài là người của hòa giải, đúng hơn, tiên tri của hòa giải

Đó là câu phát biểu của Mục Sư Giovanni Traettino, mục tử của cộng đoàn Ngũ Tuần tại Caserta dưới tên: Giáo Hội Tin Mừng Hòa Giải, ngỏ với Đức Phanxicô, trước khi ngài nói chuyện với cộng đoàn này.

Ông thưa với ngài bằng những từ ngữ thân thương nhất: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô rất thân mến, người anh em yêu dấu của tôi”. Ông cho rằng cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng là niềm vui cho bản thân ông, cho gia đình ông và cho toàn thể cộng đoàn và cho toàn bộ gia đình thiêng liêng “của chúng tôi”… “Chúng tôi yêu ngài rất nhiều. Và có một điều ngài cần biết là: ngay nơi người Tin Mừng chúng tôi, người ta hết sức âu yếm con người của ngài, và rất nhiều người chúng tôi cầu nguyện cho ngài hàng ngày… Dù sao, yêu ngài rất nhiều cũng là điều dễ dàng. Một ít người trong chúng tôi còn tin rằng việc bầu ngài làm Giám Mục Rôma là do chính Chúa Thánh Thần thực hiện. Một hồng ân trước nhất cho toàn thể Kitô Giáo trong việc đương đầu với thế giới: đó là điều bản thân tôi vẫn nghĩ. Với nghĩa cử hôm nay của ngài, một nghĩa cử hoàn toàn không ai ngờ và gây ngạc nhiên lớn, ngài đã đem lại tính hữu hình và tính cụ thể cho điều xem ra càng ngày càng là lý do hàng đầu đối với cuộc đời ngài và do đó, đối với thừa tác vụ của ngài, vì sự sống luôn đi trước thừa tác vụ. Chỉ bằng một nghĩa cử, ngài đã vượt qua mọi cái phức tạp của nghi lễ, ngài biết cách đi thẳng vào trái tim sự sống và các tương quan nhân bản và cách riêng, vào mối tương quan với người ngài nhận là anh em: gặp gỡ người anh em của mình, gặp gỡ người này ngay tại nơi họ ở, họ có thế nào gặp gỡ họ thế ấy. Rồi, trong trường hợp của chúng tôi, để thăm chúng tôi, ngài thực sự đã phải chịu cực tới hai ngày. Chúng tôi hết sức biết ơn ngài!”

Chưa hết, mục sư nói tiếp: “Đối với ngài, tín thác một văn kiện hay một thông điệp là điều không đủ… Hiển nhiên, ngài đã suy niệm nhiều về việc Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô: ngài muốn đụng tới chúng tôi, ngài muốn đích thân tới, đích thân ôm lấy chúng tôi. Ngài đã tỏ một lòng can đảm lớn lao, tự do và can đảm! Và ngài vốn hiến mình, trong đơn sơ và yếu đuối, cho sự đa dạng của chúng ta, nhưng còn cho cả việc chúng ta ôm lấy nhau nữa. Thưa Đức Giáo Hoàng Phanxicô yêu dấu, với những người như ngài, các Kitô hữu chúng tôi có nhiều hy vọng. Cho tất cả! Với chỉ một nghĩa cử, ngài đã mở rộng cánh cửa, ngài đã gia tốc việc thể hiện giấc mơ của Thiên Chúa. Ngài đã trở thành thành phần của lời Chúa Giêsu cầu xin: cho chúng tất cả nên một. Và ngài làm thế với sự vinh quang mà Tin Mừng Gioan đoạn 17 từng nói tới: với sự vinh quang mà không có nó ta không thể xây đắp hợp nhất. Tôi muốn nói tới sự vinh quang của lòng khiêm nhường. Như một ai đó vốn nói, lòng khiêm nhường nằm ở tâm điểm của vinh quang…”

Mục sư không quên nhắc tới bài giảng hàng ngày của Đức Phanxicô tại Nhà Thánh Mácta, trong đó có nói tới “chân lý là một gặp gỡ”, gặp gỡ trước nhất với Chúa Giêsu Kitô. Ông cho rằng: “sự thật này nằm ở tâm điểm cuộc sống của ngài, là chất sống cho cuộc hiện sinh thiêng liêng của ngài, là động lực gây hứng cho cuộc đời ngài. Đối với tôi, người quan sát ngài, không thể nào khác thế. Nó làm tôi tràn đầy hân hoan vì Chúa Kitô cũng là viên ngọc qúy, xin lỗi, Người là viên ngọc qúy của mọi Kitô Hữu, của cả người Tin Mừng chúng tôi nữa…”.

Theo Mục Sư Traettino, chính nhờ thế, người Tin Mừng “chúng tôi cũng đang sống và trải nghiệm cách mới mẻ bản sắc Tin Mừng của mình, một bản sắc không còn được nuôi dưỡng bằng chủ nghĩa bài Công Giáo, như từng có trước đây, nữa, nhưng là một bản sắc biết thừa nhận gốc rễ của mình trong thân cây lịch sử của Kitô Giáo, trong đó, có cả Công Giáo lẫn Cải Cách”.

Mục Sư cho rằng đấy cũng là phương thức của Đức Phanxicô: “Ngài đã học được cách liên hệ một cách xây dựng và đầy cứu vớt với những người ngài thừa nhận là cha và là anh em của ngài và lấy ra được từ kho báu của ngài điều cũ điều mới, như Sách Tin Mừng vốn nói. Ngài đã học được rằng cần phải mua cả cánh đồng, như lời Chúa Giêsu dạy ở một chỗ khác, để có thể chiếm hữu được trọn của qúy. Ta phải có trọn cánh đồng mới có thể khám ra châu báu, không bỏ qua việc biện phân bằng Lời Thiên Chúa, nhưng phải khảo sát mọi sự để chỉ giữ lấy điều tốt. Nhờ phương thức này, ta ít bị nguy cơ coi thường các đóng góp của anh em, giập tắt Thần Khí hay ngay cả gán cho các nguồn khác những điều vốn là của Thiên Chúa, như Thánh Phaolô từng khuyên nhủ ta trong thư gửi tín hữu Texalônica: “Đừng giập tắt Thần Khí, đừng khinh thường ơn nói tiên tri, nhưng hãy khảo sát mọi sự và giữ lấy điều tốt. Và một lần nữa, mỗi người phải xa lánh mọi thứ xấu xa” (xem 1Tx 5:19-22).

Mục Sư cho rằng tâm điểm lời giảng của người Tin Mừng cũng là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, nó là sứ điệp chính, là hạt nhân, là DNA của Phúc Âm; nó là “lãnh địa trên đó đắp xây mọi cuộc đối thoại có thể có giữa chúng ta và là con đường hợp nhất giữa các Giáo Hội”. Mục sư cho rằng những vị như Cha Raniero Cantalamessa, Đức Hồng Y Piovanelli của Florence và Đức HY Kaspers cũng có cùng những tâm tư như thế.

Dĩ nhiên đó là bình diện đức tin. Nhưng ta cũng sống trong bình diện lịch sử, bình diện cảm nghiệm, “trong đó chúng ta trải nghiệm nỗi nhục của chia rẽ, của chiến tranh giữa các Kitô hữu, của thù nghịch, của bách hại, ngay tại Ý: bất hạnh thay, trong nhiều năm, chúng ta đã chịu bách hại, đặc biệt là người Ngũ Tuần, trong các năm từ thập niên 35 tới thập niên 55, thời gian khét tiếng… Ở giữa là thời gian của hòa giải, thời gian của đạo đức, nếu ngài muốn, là thời gian yêu thương, thời gian trách nhiệm, cần được chu toàn bởi những người nam nữ của hòa giải. Bằng cuộc thăm viếng của ngài ở đây, một cuộc thăm viếng chứng minh rằng ngài coi rất trọng việc hòa giải, ngài đã cho thấy ngài là người của hòa giải, tôi muốn nói, là tiên tri của hòa giải”.

Liên Minh Tin Mừng Thế Giới xin lỗi

Hiệu ứng Phanxicô không chỉ có thế. Theo tin Zenit ngày 30 tháng 7, Tổng Thư Ký của Liên Minh Tin Mừng Thế Giới, Mục Sư Tunnicliffe, vừa lên tiếng ca ngợi cuộc viếng thăm người Ngũ Tuần tại Caserta hôm thứ Hai vừa qua của Đức Phanxicô và đáp lại lời ngài xin lỗi về sự thiếu hiểu biết của người Công Giáo bằng cách xin người Công Giáo tha thứ cho người Tin Mừng về các kỳ thị của họ đối với người Công Giáo.

Trong một cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh Vatican vào Thứ Tư hôm qua, Mục Sư Tunnicliffe đã trình bày một số suy tư về nghĩa cử viếng thăm hơn 200 thành viên của Giáo Hội Hoà Giải Ngũ Tuần Caserta. Được hỏi về tác động của cuộc gặp gỡ này, Mục Sư trả lời: “tôi nghĩ việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt tay với người Tin Mừng là điềm báo rất hay cho những cuộc đàm thoại tương lai, vì nó sẽ giúp chúng ta đi sâu hơn vào các tương tác của chúng ta với nhau”.

Mục Sư nói thêm: “Trong ít năm qua, Liên Minh Tin Mừng Thế Giới, một liên minh đại diện cho khoảng 650 triệu Kitô hữu khắp thế giới, càng ngày càng có nhiều tương tác hơn với Vatican và Giáo Hội Công Giáo. Chúng tôi vừa kết thúc cuộc đối thoại thần học chính thức lần thứ hai; cuộc đối thoại này nhận diện được nhiều phạm vi hai bên cùng quan tâm và các phạm vi hai bên hiện còn khác biệt”.

Nhận định về lời xin lỗi của Đức Phanxicô đối với người Tin Mừng và Ngũ Tuần, Mục Sư Tunnicliffe cho rằng lời xin lỗi này hợp với Thánh Kinh và “phản ảnh sứ điệp của Chúa Kitô”. Sau khi hy vọng rằng nghĩa cử này của Đức Giáo Hoàng sẽ gửi “một thông điệp mạnh mẽ ra khắp thế giới , nhất là các nước vẫn còn nhiều căng thẳng đáng kể giữa người Công Giáo và người Tin Mừng”, nhà lãnh đạo Tin Mừng này đã ngỏ lời xin lỗi như sau: “Tôi cũng cần nói điều này: Tôi nhìn nhận rằng trong lịch sử từng có những tình huống trong đó, người Thệ Phản, trong đó có người Tin Mừng, đã kỳ thị chống lại các Kitô hữu Công Giáo và tôi thực sự đau buồn về các loại hành động như thế, vì dù ta có thể bất đồng về thần học, nhưng việc này không bao giờ nên dẫn ta tới kỳ thị hay bách hại người khác. Tất cả chúng ta cần thừa nhận các sai sót của mình” và theo gương Đức Phanxicô, Mục Sư nói “hãy yêu cầu từng người khác tha thứ”.
Pháp nhận người tỵ nạn Kitô Giáo bị đuổi khỏi Mosul, Iraq.
Nguyễn Long Thao30/07/2014
San Jose California: 29/7/2014.- Hệ thống truyền hình Pháp France 24, phát hình tại Hoa Kỳ đưa tin Bộ Trưởng Ngoại Giao Laurent Fabius và Bộ Trưởng Nội Vụ Pháp Minister Bernard Cazeneuve tuyên bố trong một tuyên cáo báo chí rằng chính phủ Pháp sẽ trợ giúp các người Kitô giáo Iraq bị đuổi khỏi Mosul là nơi quân Hồi Giáo quá khích phái Sunni đã thiết lập quốc gia Hồi Giáo gọi tắt là ISIS từ tháng 6 năm 2014

Bản tuyên cáo viết “ Chúng tôi sẽ trợ giúp những người bị lưu đầy, mất nhà cửa vì việc thành lập quốc gia Hồi Giáo ISIS, đồng thời chúng tôi cũng giúp các người đang tị nạn tại khu vực tự trị dành cho người Kurdistan

Tuyên cáo viết thêm; “Nếu họ muốn, chúng tôi sẵn sàng tạo điều kiện dễ dàng cho họ được tỵ nạn trong lãnh thổ của chúng tôi.”

Tuy nhiên bản tuyên cáo không nói rõ Pháp sẽ trợ giúp thế nào và sẽ nhận bao nhiêu người tỵ nạn

Bản tuyên cáo của chính phủ Pháp được đưa ra sau các vụ biểu tình của dân chúng Pháp ủng hộ người tỵ nạn Iraq theo Kitô giáo.

Biểu tình trước nhà thờ Notre Dame De Paris ủng hộ người Công Giáo Iraq
Hôm Chúa Nhật 27 tháng 7, khoảng 5 ngàn người đã tụ tập biểu tình trước tiền đình nhà thờ Đức Bà tại thủ đô Paris để ủng hộ các Kitô hữu Iráq. Tại Lyon củng có cuộc biểu tình tương tự.

Hai giới chức cao cấp của Giáo Hội Pháp là Đức Tổng Giám Mục Philippe Barbarin của Lyon và Đức Giám Mục Michel Dubost của giáo phận Evry cho biết các Ngài sẽ đi Mosul trong tuần này để bày tỏ sự hỗ trợ các Kitô hữu Iraq.

Dân chúng biểu tình tuần qua tại Paris cáo buộc chính quyền Pháp đã im lặng quá lâu trước nỗi thống khổ của người tỵ nạn Kitô Giáo ở Iraq

Các nhóm khuynh tả tại Pháp hoan nghênh hành động của chính phủ Pháp. Tuy nhiên, nhóm này cũng e ngại rằng đó chỉ là những cam kết hình thức. Họ nêu ra vi dụ là chính phủ Pháp chỉ nhận tượng trưng có 500 người tỵ nạn Syria trong tổng số 3 triệu người phải tỵ nạn trong cuộc nội chiến 3 năm qua.

Theo bản tin vào những năm của thập niên 1990, số Kitô hữu tại Iraq là 1.5 triệu người, đến nay chỉ còn dưới 400,000 người.
Tin Giáo Hội Việt Nam
Giáo hạt Thuận Nghĩa tổ chức Kỳ thi Giáo lý kết thúc mùa học năm học 2013 - 2014
K. Phạm30/07/2014
Giáo hạt Thuận Nghĩa tổ chức Kỳ thi Giáo lý kết thúc mùa học năm học 2013 - 2014

Đại diện cho gần 9000 học sinh Giáo lý trong Giáo hạt, 262 thí sinh xuất sắc đến từ 13 giáo xứ trong toàn giáo hạt đã tề tựu về nơi Trường Thánh Phanxicô - Giáo xứ Thuận Nghĩa để tham dự Kỳ thi Giáo lý cấp Giáo hạt năm học 2013 - 2014.

Xem Hình

Việc học Giáo lý luôn là vấn đề được cha quản hạt, cha đặc trách giáo lý, các cha xứ cũng như mọi thành phần dân Chúa trong giáo hạt quan tâm hàng đầu và tạo mọi điều kiện tốt nhất. Cùng với giáo phận, mùa học giáo lý tại giáo hạt Thuận Nghĩa cũng được khai mạc vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 2013 và chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 gọi là mùa quanh năm từ tháng 10 năm 2013 đến hết tháng 5 năm 2014. Ở giai đoạn này, các lớp giáo lý chỉ học 1 buổi/ tuần, mỗi buổi kéo dài 2 tiết. Giai đoạn 2 gọi là giai đoạn học đại trà từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 7 năm 2014. Ở giai đoạn này, các lớp giáo lý học liên tục 6 ngày trong mỗi tuần, mỗi buổi kéo dài 2 tiết. Đây cũng là giai đoạn cao điểm trong chương trình học giáo lý của Giáo hạt. Trong mỗi giai đoạn kể trên, Ban Giáo lý Hạt luôn có những chương trình đôn đốc, thăm hỏi, kiểm tra tình hình học của các giáo xứ cũng như động viên tinh thần, khích lệ cho cả các thầy cô giáo lý viên và học sinh giáo lý. Là một giáo hạt trong giáo phận giàu truyền thống học giáo lý, tinh thần dạy và học giáo lý luôn được gìn giữ, lưu truyền. Học sinh giáo lý của Giáo hạt qua mỗi thế hệ luôn luôn giữ vững và không ngừng phát huy được những tố chất:Chịu khó, chăm ngoan, sáng tạo và không ngừng cố gắng của mình. Tinh thần ấy thể hiện mọi lúc, mọi nơi để dù ở đâu tinh thần sống đạo nhờ vốn giáo lý đã được lĩnh hội, họ trở thành những chứng nhân sống đạo trong nhiều vai trò khác nhau, như những chia sẻ thân thương của Cha Quản hạt trong buổi khai mạc: “ Sau này, trong số chúng con ngồi đây, người có thể trở thành một thành viên của Ban giáo lý hạt, người có thể trở thành một nữ tu, một linh mục hay bất kỳ một ông nọ bà kia sống tốt giữa đời để làm chứng cho Chúa”.

Trước đó, ngày 23/07/2014 tại tất cả 13 giáo xứ trong toàn giáo hạt cũng đã tổ chức kỳ thi giáo lý 3 chung: Chung ngày, chung giờ và chung đề thi. Với hình thức thi đổi mới, phong cách tổ chức thi nghiêm túc và chuyên nghiệp, cuộc thi đã kiểm tra, kiểm chứng và đánh giá được đúng chất lượng cũng như tinh thần dạy và học giáo lý của các giáo xứ trong toàn hạt.

Trở lại với cuộc thi giáo lý cấp giáo hạt năm 2014, 262 thí sinh là những thí sinh xuất sắc của 13 giáo xứ. Theo đó, số thí sinh dự thi của mỗi giáo xứ được tính theo tỉ lệ số học sinh trong độ tuổi học giáo lý của giáo xứ đó(chiếm 3%). Với thể thức như vậy, giáo xứ Thanh Dạ là giáo xứ có thi sinh dự thi đông nhất với 64 thí sinh, giáo xứ Vĩnh Yên là giáo xứ có thí sinh dự thi ít nhất với 2 thí sinh. Dù ít, dù nhiều, dù đến từ giáo xứ miền xuôi hay miền ngược nhưng tất cả thí sinh tham dự kỳ thi đều là những đại diện cho tinh thần ham học hỏi giáo lý và yêu mến Lời Chúa của giáo xứ mình. Không quá quan trọng tính thắng thua, xếp hạng cao thấp, thứ bậc và những giá trị vật chất khác như các cuộc thi bên ngoài xã hội vẫn hay làm, kỳ thi giáo lý cấp giáo hạt Thuận Nghĩa một lần nữa nhấn mạnh và bồi dưỡng những giá trị vĩnh cửu của đời sống người Kitô hữu, nhất là với những Kitô hữu trẻ là Học đạo, học giáo lý để sống đạo, giữ đạo và làm chứng cho niềm tin Kitô giáo của mình giữa lòng xã hội hôm nay. Đây cũng là những thao thức và trăn trở của Cha đặc trách Giáo lý Hạt trước thực trạng đời sống đức tin của nhiều người trẻ trong giáo hạt, vì cuộc sống mưu sinh mà phải xa quê hương, xa gia đình và không có điều kiện để trang bị những vốn kiến thức giáo lý sống đạo cần thiết.

Kỳ thi giáo lý Hạt Thuận Nghĩa năm nay được tổ chức một cách nghiêm túc, chuyên nghiệp và bài bản. Thí sinh cả 9 lớp thuộc 3 khối: Căn bản, Kinh thánh và Vào đời đều được làm bài thi với hình thức thi trắc nghiệm, mỗi đề thi đều có 60 câu, thời gian làm bài là 60 phút. Không có thí sinh nào vắng mặt cũng như không có trường hợp nào vi phạm quy chế thi. Hầu hết các thí sinh đều tỏ ra khá hài lòng với bài làm của minh. Kết quả kỳ thi được công bố vào cuối ngày: có 17 em đạt điểm tối đa 60 điểm. Điểm bình quân rất là 54/60đ.

Mùa học giáo lý 2013 – 2014 kết thúc, với hành trang giáo lý đức tin vững vàng, những người trẻ hăng hái ra đi, gieo bước và làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh sống của mình.
Thánh Lễ Tri Ân Các Linh Mục, Tu Sĩ Đã Phục Vụ Cộng Đồng Công Giáo VN Seattle.
Nguyễn An Quý30/07/2014
Seattle. Hôm nay thứ hai ngày 28 tháng 7, một ngày đầu tuần khá đẹp đến với xứ Cao Nguyên Tình Xanh, bầu trời trong xanh, không mấy nóng bức, càng về chiều khí hậu càng dễ chịu. Khung cảnh đầm ấm của một gia đình giáo xứ mang tên Các Thánh Tử Đạo Việt Nam lại được diễn ra trong một nghi lễ khá trang trọng được cử hành vào ngày hôm nay lúc 6 giờ chiều. Đó là thánh lễ tạ ơn để bày tỏ lòng tri ân đối với các vị cựu linh mục đã từng tạo dựng cũng như gìn giữ, duy trì và phát triển Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam nơi đây từ khi người Việt bỏ nước ra đi năm 1975, đến cư ngụ tại Seattle và các vùng phụ cận cũng như các tu sĩ nam nữ đã phục vụ Cộng Đồng. Đây là sáng kiến của linh mục chánh xứ Đào Xuân Thành là vị chánh xứ tiên khởi của giáo xứ CTTĐVN Seattle khi Trung Tâm Cộng Đồng được nâng lên hàng Giáo Xứ Thể Nhân. Cử hành thánh lễ tạ ơn hôm nay là để nhắc nhở cùng nhau luôn gìn giữ và duy trì truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: “Uống nước nhớ nguồn”.

Xem Hình

Mới hơn 5 giờ chiều, giáo dân đã có mặt khá đông đảo. Nhiều giáo dân từ các Cộng Đoàn xa cũng về tham dự ngày vui đặc biệt này. Các linh mục tập trung khá sớm để sẵn sàng dâng thánh lễ, vị xa nhất là linh mục Gioakim Lê Quang Hiền đến từ Spokane cũng là vị linh mục tiên khởi đã có công qui tụ giáo dân và thành lập Cộng Đồng Công Giáo nơi đây vào năm 1975.

Đúng 6 giờ, nghi đoàn gồm ban lễ sinh cùng với linh mục đoàn cung nghi Thánh Giá tiến lên cung thánh theo tiếng hát của ca đoàn trong bài ca nhập lễ. Linh mục chánh xứ Đào Xuân Thành chủ tế thánh lễ cùng với 10 linh mục đồng tế và 2 thầy sáu phó tế Nguyễn Đức Mậu và thầy Phạm Văn Thể phụ tế thánh lễ.

Mở đầu thánh lễ cha chánh xứ nói: Hôm nay giáo xứ chúng con cử hành thánh lễ tạ để cùng nhau cảm tạ Chúa đã ban cho Cộng đồng Công Giáo Việt Nam muôn hồng ân và cũng để tri các cựu linh mục trong nhiệm vụ tuyên uý, hay quản nhiệm đã có công gầy dựng cộng đồng giáo xứ chúng con từ khi còn trung tâm cộng đồng nhỏ bé đến lớn mạnh như hôm nay và cũng để bày tỏ lòng biết ơn quý tu sĩ nam nữ đã sinh hoạt trong Cộng Đồng ngay từ lúc ban đầu. Cám ơn sự hiện diện đông đảo của nhiều giáo dân từ các Cộng Đoàn xa cùng toàn thể cộng đồng dân Chúa hiện diệm trong thánh lễ tạ ơn hôm nay. Con xin lần lượt giới thiệu theo thời gian, trước hết linh mục tiên khởi từ ngày thành lập Cộng Đồng, cha Gioakim Lê Quang Hiền đến từ Spokane, linh mục kế nhiệm là cha Antôn Phan Hữu Hậu hiện đang cư ngụ tại Bà Rịa Vũng Tàu, ngài đang đau yếu không được khoẻ, linh mục An Phong Trần Đức Phương kế nhiệm linh mục Phan Hữu Hậu, sau cha Phương là linh mục Vũ Hùng Tôn, ngài bận công tác nên không có mặt hôm nay, kế đến là linh mục Hoàng Phượng tiền nhiệm của con, linh mục Trần Hữu Lân phụ tá từ thời cha Tôn và cha Phượng và linh mục Nguyễn Sơn Miên đang giúp giáo xứ từ thời cha Phương, cha Nguyễn An Tuấn, cùng các linh mục đồng tế và 2 thầy phó tế Nguyễn Đức Mậu, thầy Phạm Thể. Hiện diện trong thánh lễ con thấy có đông đủ quý soeur Dòng Mến Thánh Giá, là những vị đã có công trong nhiều công tác sinh hoạt tại Cộng Đồng từ nhièu năm qua. Xin cho một tràng pháo tay để cùng chào đón nhau trong niềm vui của ngày tạ ơn. ( tiếng vỗ tay kéo dài khá lâu )

Thánh lễ được tiếp nối qua phần phụng vụ lời Chúa. Cha chủ tế phụ trách giảng lễ. Bài giảng trong thánh lễ, cha chủ tế đã nói lên lòng tri ân đối với các linh mục đã từng phục vụ cộng đồng, ngài nói: “Trọng kính qúy cha, qúy xơ và toàn thể ông bà bà anh chị em. Trong bài phúc âm mà chúng ta vừa nghe nói về dụ ngôn người đi gieo hạt. Chúa Nhật vừa qua thánh Matthêu cũng đã kể lại Chúa nói về dụ ngôn nước Trời như người đi gieo hạt lúa, những hạt lúa được rơi vào những vùng đất khác nhau và có kết quả khác nhau. Người đi gieo hạt luôn mơ ước làm sao cho hạt giống được sinh nhiều kết quả. Hôm nay chúng ta liên tưởng đến hạt giống đức tin mà những vị mục tử khi đến vùng đất xa lạ này đã muốn gầy dựng một cộng đồng Đức tin Công Giáo Việt Nam để rồi hôm nay chúng ta có đủ điều kiện sinh hoạt thờ phượng Chúa theo đúng truyền thống Đức Tin Công Giáo Việt Nam. Hôm nay giáo xứ chúng con cùng nhau thực hiện truyền thống cao đẹp của người Việt Nam, luôn sống với tinh thần đạo nghĩa: “Uống nước nhớ nguồn “để bày tỏ lòng tri ân đối với các linh mục đã có công xây dựng Cộng Đồng cũng như các tu sĩ đã sinh hoạt tại Cộng Đồng. Trước hết, chúng con xin tri ân vị linh mục tiên khởi là linh mục Gioakim Lê Quang Hiền đến từ Spokane, dù ngài đang bệnh nhưng cũng đã cố gắng có mặt với chúng con. Cha Lê Quang Hiền lả linh mục có nhiều sáng kiến trong giai đoạn đầu tiên khi những người Công Giáo Việt Nam bỏ nước ra đi, chân ướt chân ráo mới đến cư ngụ tại Seattle và các vùng phụ cận, ngài đã tìm tòi để qui tụ được một số gia đình và hình thành được một Cộng Đồng Đức Tin từ năm 1975. Trong thời gian đầy cam go nơi xứ lạ quê người này, ngài đã bỏ nhiều công sức và vận động với Toà Giám Mục nên mới hình thành được một Cộng Đồng Đức Tin Công Giáo Việt Nam nhờ sự nâng đỡ của Đức TGP Hunthausen. Cộng Đồng đã được chính thức trở thành Trung Tâm mục vụ nhờ sự nâng đỡ của Đức Hunthausen. Ngài phục vụ Cộng Đồng cho đến năm tháng 2 năm 1977.Vị linh mục có công thứ hai mà chúng con tri ân là linh mục Phan Hữu Hậu, ngài được bổ nhiệm làm tuyên uý Trung Tâm Cộng Đồng từ ngày 19 tháng 2 năm 1977. Ngài hiện đang đau yếu và cư ngụ tại Vũng Tàu, khi hay tin này, ngài rất vui mừng, tuy ngài không nói được nhiều nhưng ngài rất cảm động và ngài cũng đã ân cần thăm hỏi và chúc mừng tất cả ông bà và anh chị em. Linh mục Phan Hữu Hậu phục vụ Cộng Đồng đến tháng 1 năm 1990, ngài có rất nhiều sáng kiếm và dốc hết toàn lực trong việc xây dựng trung tâm cộng đồng nên chúng ta mới có được cơ sở tương đối khá ổn định tại nhà thờ Trung Tâm ở Seattle trước khi giáo xứ về nơi cơ sở mới này. Kế đến là linh mục Trần Đức Phương, cha Phương được bổ nhiệm chức vụ Quản Nhiệm Cộng Đồng Công Giáo CTTĐVN từ tháng 1 năm 1990 đến năm 2000. Hơn 10 năm phục vụ, ngài đã kiện toàn được nhiều chương trình hữu ích cho việc sinh hoạt như thành lập được nhiều đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, thực hiện việc tậu mãi các cơ sở chung quanh để mở rộng diện tích khu vực Trung Tâm. Đặc biệt ngài đã vận động giáo dân đóng góp tài chánh để tậu mãi thêm nhiều cơ sở khi hướng đến việc phát triển cơ sở tại Trung Tâm. Vị linh mục kế nhiệm cha Phương là linh mục Vũ Hùng Tôn, ngài là linh mục nhạc sĩ, ngài giữ chức vụ quản nhiệm Cộng Đồng gần 6 năm, ngài bận công tác nên không mặt hôm nay. Năm 2006 linh mục Hoàng Phượng được Toà Giám Mục bổ nhiệm chức vụ Quản nhiệm Cộng Đồng thay thế linh mục Vũ Hùng Tôn về hưu. Linh mục Hoàng Phượng là vị linh mục hiền lành, dễ tính, việc gì ngài cũng làm và hoà đồng với mọi người, có lần nhà thờ dưới hội trường bị ngập nước, ngài cũng xông xáo tát nước với các vị đang làm ở đó, kế đến là cha Trần Hữu Lân, cha Lân phụ tá Quản nhiệm từ thời cha Tôn, cha Phượng và hiện ở giáo xứ Lộ Đức. Ngài có tâm hồn nghệ sĩ nên sống thoải mái. Cha Nguyễn Sơn Miên là bậc lão thành, ngài thích hoạt động giới trẻ, ngài là ca sĩ nổi tiếng của giáo xứ, ngài hát đủ các loại nhạc. Chúng con xin trí ân tất cả các ngài. Xin cám ơn nhiều xơ đã giúp cho cộng đồng giáo xứ nhiều công tác. Dâng thánh lễ hôm nay chúng ta cùng cảm tạ Chúa đã ban cho Cộng Đồng Công Giáo tại TGP Seattle nhiều vị mục tử thiệt thành với việc xây dựng Cộng Đồng Đức Tin nơi đây mang truyền thống văn hoá Việt Nam… “

Trước khi ban phép lành cuối lễ, các vị đại diện của giáo xứ đã trao quà lưu niệm cho các vị linh mục cựu tuyên uý, cựu quản nhiệm cũng như các linh mục hiện diện đồng tế thánh lễ cùng quý xơ. Sau Thánh lễ là buổi liên hoan tiệc mừng với sự tham dự đông đảo của hơn 500 vị gồm đầy đủ các linh mục hiện diện và quý tu sĩ nam nữ. Buổi tiệc chiêu đãi khá chu đáo có cả bia bọt nữa. Phần văn nghệ có ca sĩ Lâm Mai Hương trình diễn giúp cho bữa tiệc được thêm phong phú. Nhiều linh mục chia sẻ trong thời kỳ gian đảm nhận coi sóc Cộng Đồng. Cảm động nhất là phần chia sẻ của linh mục Lê Quang Hiền trong thời gian đầu khi người Việt chân ướt chân ráo dừng chân đến nơi xứ lạ quê người này. Ngài kể nhiều câu chuyện khá gian nan trong thời gian đầu nhưng có một chuyện mà ngươì viết khó quên khi ngài kể: “có một lần tôi gặp một người Việt Nam, tôi mừng quá nên liền hỏi: chị có phải người Việt không? Người này lạnh lung trả trả lời: I am not Vietnammese rối quay mặt bỏ đi. Ngài nói tôi xót xa vô cùng, mới mất nước có mấy tháng mà người này đã mất đi căn tính Việt Nam rồi. Hôm nay nghe ngài nhắc lại câu chuyện này, tôi cũng cảm thấy đau xót thật. Được biết linh mục lê Quang Hiền là vị linh mục thuộc Giáo Hoàng Chủng Viện, ngài chịu chức mới mấy tháng thì biến cố 1975 xẩy ra và ngài đã may mắn đến đất tự do vào năm 1975. Ngài là con người có tâm hồn dân tộc và tinh thần quốc gia rất vững vàng. Ngài cũng bày tỏ ưu tư trong thời gian đầu khi ngài gặp nhiều linh mục Mỹ có chủ trương chống chiến tranh, nên họ rất thờ ơ trước cảnh Giáo Hội Việt Nam đang bị bách hại do vậy ngài đã cố công tìm mọi cách bày tỏ cho Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ biết thông cảm và chia sẻ với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Cha Trần Đức Phương lại chia sẻ bằng bài hát rất ý nghĩa, khi ngài cất lên tiếng hát và nhấn mạnh: “Chúa cho con trơì mơí đất mới “. Thật vậy muôn hồng ân Chúa đã tuôn trào trên mỗi người chúng ta và chúng ta đã thật sự nhận được: Trơì mới, đất mới của xứ sở tự do này.

Buổi liên hoan khá vui nhộn mang tình gia đình giáo xứ thật trọn vẹn được chấm dứt lúc 10 giờ 40. Mọi ngươì chia tay ra về trong tâm tình tạ ơn.

Nguyễn An Quý
Lễ tuyên hứa của 30 em lớp bao đồng giáo xứ Nữ Vương Hòa Bình Mỹ Tho
Nhật Hoa30/07/2014
GX NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH: THÁNH LỄ TUYÊN HỨA CỦA 30 EM LỚP BAO ĐỒNG

Sau gần một năm theo học, với sự hướng dẫn tận tình của Cha Gioakim Trần Quốc Toàn và Thầy Giuse Thông. Vào lúc 17 giờ, ngày 19/7/2014 tại Thánh đường giáo xứ Nữ Vương Hòa Bình đã long trọng diễn ra Thánh lễ và nghi thức tuyên hứa cho 35 em của lớp giáo lý bao đồng. Thánh lễ đồng tế do Cha sở Phaolô Trần Kỳ Minh chủ sự, đồng tế với ngài có quý Cha: Phêrô Mai Văn Thượng, Gioakim Trần Quốc Toàn, Lêô Trần Văn Thanh (Cha sở giáo xứ Kiến Bình). Tham dự Thánh lễ còn có sự hiện diện của quý phụ huynh, người đỡ đầu và đông đảo giáo dân trong Giáo xứ.

Xem Hình

Để chuẩn bị thánh lễ được diễn ra sốt sáng và trang nghiêm Cha sở Phaolô đã mời gọi các em đến và gặp gỡ chia sẻ để các em nhìn lại đời sống của mình đồng thời hướng các em đến đời sống của một kitô hữu trưởng thành.

Đúng 17 giờ, Cha chủ tế từ cung thánh tiến xuống cuối nhà thờ để đón rước các em tiến lên bàn Thánh như là để dâng tiến cuộc đời chính các em lên cho Chúa xin Ngài thánh hiến và đồng hành với những người trẻ.

Sau những năm các em theo học giáo lý, từ khi xưng tội cho đến kết thúc lớp Bao đồng. Trải qua 3 năm, đây quả là một hành trình đức tin đầy thách thức đối với các em. Có những em vì lí do bận việc học, bận việc gia đình hay đi làm xa đã không thể tiếp tục học giáo lý sau khi đã thêm sức xong. Những em còn lại, đến nay các em đã hoàn thành chương trình giáo lý Bao đồng. Và trong Thánh lễ chiều nay, các em long trọng lặp lại lời trung tín của mình và lặp lại những gì mà cha mẹ đỡ đầu các em đã thay lời tuyên xưng cho các em trong dịp lãnh nhận bí tích rửa, lần lượt từng em nói tên thánh và họ tên của mình. Không chỉ dành riêng cho những em mà chính ngay cộng đoàn cũng hiệp ý cùng với các em lặp lại lời tuyên xưng đức tin của minh. Trong bài giảng cha chủ tế mời gọi các em sống xứng đáng với hồng ân mà Chúa thương ban, biết dùng đời sống đạo của mình làm nhân chứng cho Chúa trong cuộc sống.

Nghi thức tuyên hứa được diễn ra sau bài giảng, những bàn tay cùng nhau hướng về sách thánh chung một niềm tin hướng về một đời sống đạo Kitô hữu trưởng thành. Sau nghi thức tuyên hứa đó là dâng của lễ lên Thiên Chúa, cũng chính là dâng những tâm tình tạ ơn của các em, dâng những thành quả mà tất cả cộng đoàn có được nhờ hồng ân Chúa trong thời gian qua. Trong phần hiệp lễ, các em được đón rước Mình và Máu Chúa KiTô trong ngày lễ đặc biệt của các em.

Sau lời nguyện hiệp lễ, ông Đôminicô Vũ Xuân Trường - đại diện HĐMV của Giáo xứ và hai em Lớp Bao Đồng đại diện cho tất cả các em lớp Giáo lý đã có đôi lời tâm tình để cám ơn Cha Sở, quý phụ huynh, quý Thầy và cộng đoàn đang hiện diện trong Thánh lễ. Đáp từ, Cha sở có lời chúc mừng các em và nhắn gửi các em những lời chỉa sẻ trong đời sống đức tin.

Thánh lễ kết thúc lúc 18 giờ 30, sau đó các em chụp hình lưu niệm với quý Cha và gia đình.

Lạy Chúa, xin dâng lên tất cả những người con chập chững bước vào đời. Xin Ngài nâng đỡ thêm sức cho các em, ban thêm niềm tin để cho các em có đủ nghị lực để vươn lên trong cuộc sống.

Nhật Hoa
Thánh lễ Khấn trọn đời của các Nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa
BTT Giáo phận Hưng Hóa30/07/2014
Thánh lễ Khấn trọn đời của các Nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa

Đức cha Gioan Maria Vũ Tất đã chủ tế Thánh lễ Thánh hiến trọn đời cho 20 Nữ tu Khấn Trọn Đời và 2 Nữ Tu mừng Ngân khánh Khấn dòng của Hội Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa, vào lúc 8g00 ngày 29-7-2014, tại Nhà thờ Chính Tòa, xã Trung Sơn Trầm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Đồng tế với ngài có Đức Cha phụ tá Anphongsô Nguyễn Hữu Long, Cha Tổng Đại diện Phêrô Phùng Văn Tôn, quí Cha trong và ngoài Giáo phận, quí bề trên các Hội dòng, quý ân nhân, thân nhân của khấn sinh; với quý tu sĩ nam nữ và khá đông giáo dân tham dự.

Xem Hình

Bước vào Thánh lễ, Đức cha chủ tế giới thiệu ý nghĩa sâu xa của Thánh lễ Thánh hiến (Khấn trọn đời) và xin cộng đoàn cầu nguyện cho những người dâng mình cho Chúa nói chung, và 20 chị khấn trọn đời và 2 chị mừng ngân khánh khấn dòng hôm nay nói riêng. Ngài nói: “Ơn gọi Thánh hiến là ơn nhưng không mà Thiên Chúa ban cho ai thì người ấy được”.

Giảng trong Thánh lễ, Đức Cha Anphongsô nói: “Hôm nay, tôi thấy ai cũng vui, mà vui nhất chắc là 20 nữ tu khấn trọn, và 2 chị mừng Ngân Khánh, vì các chị đạt được nguyện ước trọn đời thuộc về Chúa. Khuôn mặt các chị bừng lên niềm vui. Chúng ta cùng vui với các chị”.

Đức Cha chia sẻ về ơn gọi dựa trên nền tảng Thánh Kinh và tông huấn Niềm Vui Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phanxicô. Bài giảng của ngài gồm tóm những ý chính sau:

1. Trước hết, Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa của niềm vui. Ngài vui trong công cuộc tạo dựng.

2. Niềm vui của con người thường khác với niềm vui của Thiên Chúa, bởi được đặt trên danh-lợi-thú, nên mau qua, hời hợt, vương vấn vật chất, có khi đắm mùi tục lụy và xấu xa nữa.

3. “Niềm vui của Tin Mừng đổ đầy trái tim và cuộc sống của tất cả những ai gặp Chúa Giêsu. Những ai chấp nhận đề nghị cứu độ của Người đều được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn phiền, trống rỗng nội tâm và cô đơn. Với Đức Kitô, niềm vui luôn luôn được tái sinh” (Niềm vui của Tin Mừng số 1).

4. Không chỉ các nữ tu này, mà mọi người chúng ta cũng phải làm sao đạt được niềm vui gặp gỡ Chúa Kitô trong cuộc đời mình.

5. Niềm vui có Chúa trong cuộc đời không ngăn cản kitô hữu, kể cả các nữ tu, khỏi những thử thách, đau khổ nơi tâm hồn hay thể xác.

6. Niềm vui đó còn phải lan tỏa ra chung quanh, đến với mọi người, nhất là với những ai đang ở trong sầu đau buồn tủi của cuộc sống, trong viễn cảnh loan báo Tin Mừng.

Tiếp đến, nghi thức Khấn hứa được các Nữ tu lần lượt tuyên xưng. Nhận lời khấn của các chị là chị Tổng và phó Tổng phụ trách trước sự chứng giám của Đấng bản quyền Giáo phận. Từ nay, các chị trở thành những thành viên chính thức của Nhà Dòng. Bầu khí hết sức trang nghiêm và sốt sáng.

Cuối Thánh lễ, chị Tổng phụ trách đại diện cho Hội Dòng cám ơn quí Đức Cha, quí cha, quí tu sĩ nam nữ và mọi thành phần dân Chúa tham dự. Thật là một hồng phúc cho Hội Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa.

BTT Giáo phận Hưng Hóa
Phụng Vụ - Mục Vụ
Powerpoint Chúa Nhật 18 Quanh Năm Năm A - 18th Ordinary Sunday Year A
Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng sdb30/07/2014
Thánh Inhaxiô, Tổ Phụ Dòng Tên
Lm Giuse Nguyễn Hữu An30/07/2014
Từ Lộ Đức (Pháp) đến Burgos (Tây Ban Nha) hơn 400km. Tại Burgos có Đền Thánh Loyola nổi tiếng. Từ xa, nhìn Nhà thờ với dáng vẻ cổ kính và khuôn viên rộng lớn. Bên trong Nhà thờ có nhiều Nhà nguyện ở chung quanh với những cột đá cẩm thạch nhiều màu sắc khác nhau thật lộng lẫy, có nhiều tác phẩm nghệ thuật trên cung thánh, trên trần và trên các bức tường.

Chúng tôi viếng thăm những nơi liên hệ đến cuộc hoán cải của Thánh Inhaxiô. Hướng dẫn chương trình tham quan đã được thu âm bằng nhiều ngôn ngữ. Chọn phần tiếng Việt, chúng tôi lắng nghe về hành trình hoán cải và nên thánh của Inhaxiô, đi đến những căn phòng giới thiệu về cuộc đời của thánh nhân và đến Nhà nguyện “hoán cải” dâng thánh lễ.

1. Đôi dòng tiểu sử Thánh Inhaxiô

Thánh Inhaxiô sinh tại Loyola vào năm 1491, trong một gia đình quí tộc xứ Basque của Tây Ban Nha. Inhaxiô là người em út trong số 13 người con. Thời niên thiếu, Ignatiô được nhà vua chọn làm người hầu cận, tiếp đến là chiến sĩ trong quân đội hoàng gia.

Năm 1509, Inhatiô tòng quân Antonio Manrique de Lara, Duke thành Najera và Viceroy thành Navarre với mục đích là được thăng tiến thành một công tước. Dưới sự lãnh đạo của Duke, Inhaxiô đã tham gia nhiều trận đánh mà không bị thương tích gì.

Ý Chúa thật nhiệm mầu. Sức mạnh lại bày tỏ qua sự yếu đuối như lời thánh Phaolô:“…vì quyền năng của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối ” (2 Cr 12,9). Ngày 20 tháng 5 năm 1521, cột mốc ghi dấu đặc biệt. Quân Pháp đánh chiếm thành Pamplona. Inhaxiô bị một viên đạn đại bác bắn gảy chân và bị thương nặng. Bức tượng bằng đồng phía ngoài hành lang kể lại sự kiện này.Trở về sống dưỡng bệnh trong lâu đài của gia đình, Inhaxiô giết thời giờ bằng cách đọc những sách kể lại những hành động phi thường và lãng mạng của các hiệp sĩ. Các Nữ tu đã đem đến cho ngài cuốn “Cuộc đời Chúa Kitô” và cuốn “Hạnh các thánh”. Dần dần, những quyển sách này đã thu hút ngài. Khi đọc về cuộc đời của thánh Phanxicô Assisi, Thánh Đaminh và nhiều tu sĩ nổi tiếng khác, Inhaxio quyết tâm noi gương các bậc thánh nhân hiến mình để đi chinh phục Đất Thánh cho Giáo Hội. Sau khi phục hồi, Inhaxio đến thăm tu viện Santa Maria de Montserrat của dòng Biển Đức. Tại đây, ngài treo bộ quân phục của mình trước một bức hình Đức Mẹ Maria. Sau đó, ngài đến thị trấn Manresa, Catalonia và đã dành nhiều tháng sống trong một hang động để thực hành khổ hạnh khắt khe. Tại Manresa, Inhaxio bắt đầu thay đổi lối sống và cảm nghiệm sự thay đổi trong tâm hồn xen lẫn niềm vui và nỗi khổ đau.Lương tâm bị đánh động, từ đó ngài khởi đầu một hành trình lâu dài và đau khổ khi trở về với Ðức Kitô. Có một lời cầu nguyện cho các hối nhân mà Inhaxiô rất tâm đắc: "Lạy Chúa, xin hãy chấp nhận mọi đặc quyền, mọi ký ức, mọi hiểu biết và toàn thể ý chí của con. Ngài đã ban cho con tất cả những gì con có, tất cả con người của con, và con xin phó thác chúng cho thánh ý của Ngài, để Ngài tùy ý sử dụng. Con chỉ xin Chúa ban cho con tình yêu và ơn sủng. Ðược như thế, con đã giàu sang đủ và không dám đòi hỏi gì nữa".

Vào năm 1522, được thấy Mẹ Thiên Chúa trong một thị kiến, ngài thực hiện cuộc hành hương đến đan viện dòng Biển Ðức ở Monserrat. Ở đây, ngài xưng thú tội lỗi, mặc áo nhặm và đặt thanh gươm trên bàn thờ Ðức Maria, thề hứa sẽ trở nên một hiệp sĩ cho Ðức Mẹ.

Trong khoảng thời gian một năm, ngài sống gần Manresa, có khi thì ở với các tu sĩ Ða Minh, có khi thì ở nhà tế bần, nhưng lâu nhất là sống trong một cái hang ở trên đồi để cầu nguyện. Chính trong thời gian hoán cải này, Linh Thao là con đường thiêng liêng đặc biệt và ngài bắt đầu một công trình mà sau đó rất nổi tiếng, đó là cuốn “Những Thao Luyện Tâm Linh”.

Vào năm 1523, ngài rời Manresa đến Roma và Giêrusalem, là nơi ngài sống nhờ việc khất thực và hăng say hoán cải người Hồi Giáo ở đây. Vì lo sợ cho tính mạng của ngài, các tu sĩ Phanxicô khuyên ngài trở về Barcelona. Tin tưởng rằng, kiến thức uyên bác sẽ giúp đỡ tha nhân cách thiết thực hơn, ngài dành 11 năm tiếp đó trong việc học ở Alcalá, Salamanca và Paris.

Sau khi đi hành hương ở Đất Thánh về, Inhaxiô quyết định trở thành một linh mục. Việc này đòi hỏi ngài phải bắt đầu lại việc học hành. Inhaxiô đã cố gắng học tiếng La tinh và ghi tên vào học ở Đại học Paris.Trong lúc theo học ở Paris, ngài đã thu phục được một nhóm nhỏ sinh viên thành lập một hội đoàn trong đó có Phanxicô Xaviê và Pierre Fabre.

2. Sáng lập Dòng Tên

Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, 15-8-1534, bảy sinh viên Đại Học Paris cùng nhau đến nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo ở Montmatre (Crypte du Martyrium de Montmartre) để tuyên khấn. Chân phước Phêrô Favre, linh mục duy nhất của nhóm, dâng lễ, một lễ dành riêng cho họ. Trước khi rước Mình Thánh Chúa, mỗi người lần lượt đọc lời khấn đã viết sẵn. Trong tinh thần này, bảy anh em đã ý thức được một tâm tình: Tất cả là những người Bạn của Chúa Kitô. Trong số bảy người đó, ngoài Thánh Inhaxiô ra còn có Thánh Phanxicô Xaviê. Khi viếng thăm nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo ở Montmatre, chúng tôi đọc được một bảng bằng đồng viết bằng tiếng La tinh: “Societas Jesu Quae Sanctum Ignatium Loyolam Patrem agnoscit, Lutetiam matrem Hic nata est. – Dòng Tên sinh tại nơi đây. Cha: Thánh Inhaxiô, Mẹ: Paris”.

Sau thời gian sống ở Paris, Inhaxiô và nhóm bạn bảy người đã nuôi mộng sẽ đi Giêrusalem và dấn thân ở đó. Tuy nhiên, họ cũng có một ý tưởng thứ hai, là nếu điều kiện không cho phép họ đi Giêrusalem, thì tất cả sẽ xin tự nguyện tùng phục Đức Thánh Cha, và sẽ đi bất cứ nơi đâu và làm bất cứ việc gì để phục vụ Giáo Hội.

Khi từng người lần lượt đã đến Roma, họ nhận được sự chúc lành của Đức Thánh Cha, Ngài cũng cho phép họ đi Đất Thánh và Ngài còn cho phép tất cả được chịu chức Linh Mục.

Trong năm đó, năm 1537, vì điều kiện không cho phép, nên việc đi Giêrusalem phải hoãn lại, và với thời gian, Chúa đã muốn hướng đi khác cho những người trẻ này. Đặc biệt trong thời gian này Inhaxiô đã có được một thị kiến tại La Storta: “Một hôm khi còn cách xa Roma mấy dặm, đang khi cầu nguyện trong một nhà thờ, Inhaxiô nhận thấy một sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn, và thấy rõ ràng Chúa Cha đặt ông cùng Chúa Kitô, con của Ngài. Inhaxiô không thể nào nghi ngờ điều đó chỉ biết rằng Chúa Cha đặt mình cùng Chúa Con” (Hồi ký I-nhã số 96). Đó chính là một trong những kinh nghiệm giúp Inhaxiô và các anh em nhận ra được ơn gọi để trở nên những người kết thân với Chúa Kitô, trở nên những môn đệ của Ngài và cùng Ngài lên đường phục vụ Thiên Chúa và các linh hồn.

Trong thời gian này, các anh em tiếp tục sống tinh thần tông đồ, giúp các các linh hồn, và đưa mọi người về với Đức Kitô đúng theo tinh thần của Linh Thao. Đây cũng là một trong những trọng tâm sống của họ. Các anh em đều tiếp tục xây dựng cuộc sống của mình trên đặc sủng Linh Thao. Họ cũng nhận định và suy nghĩ về tương lai của mình. Một trong những điều họ suy nghĩ là: “Nên đặt tên cho nhóm bạn mình là gì đây?”. Với tâm tình “là những người bạn trong Chúa Kitô”, tất cả đều đồng tâm chọn chính tên của Đấng đã làm cho mọi người yêu mến và ao ước phục vụ. Vì thế, họ đã chọn tên cho nhóm là: “Societatis Jesus – Cộng đoàn Giêsu hữu”.

Sau đó, vào Mùa Chay năm 1539 tại Roma, Inhaxiô và các bạn đã nhất trí xin lập một dòng tu mới. Đức Thánh Cha Phaolô III đã chính thức phê chuẩn Dòng Chúa Giêsu vào năm 1540, với tên gọi “Cộng đoàn Giêsu hữu”. Thánh Inhaxiô được bầu làm bề trên đầu tiên. Ở đây xin mở ngoặc để phần nào trả lời cho câu hỏi: “Tại sao ở Việt Nam lại kêu Dòng Chúa Giêsu là Dòng Tên?“ Vì khi Dòng Chúa Giêsu vào Việt Nam, thì trong bối cảnh xã hội thời đó, ai kêu tên của Ông Bà Cha Mẹ, đặc biệt tên của Chúa, thì rất phạm thượng, nên “Dòng Chúa Giêsu” đã được kêu là “Dòng Tên”, để không phạm húy, để mọi người dễ chấp nhận, và cũng dễ dàng cho anh em Giêsu Hữu thời đó trong việc truyền giáo.

Khi Dòng Tên được phê chuẩn và hình thành, Inhaxiô và các anh em đã quyết định một vài điều liên quan đến đời sống thiêng liêng và phục vụ. Cộng đoàn Dòng Tên sẽ không có giờ kinh phụng vụ chung, tu sĩ dòng không có áo dòng như các tu viện và dòng Tu thời đó, và Dòng Tên cũng không là một tu viện với một “chỗ gối đầu” êm ấm, được bao quanh bởi bốn bức tường kiên cố. Nhưng tại sao lại có những quyết định như thế? Đơn giản là các tu sĩ Dòng Tên cần phải sống ơn gọi tông đồ mà Thiên Chúa đã mời gọi. Vì thế, họ đã chọn lựa một số cách thức giúp họ dễ dàng thi hành sứ mạng tông đồ hơn. Vì thế, tu viện của Dòng Tên sẽ là phố phường và thế giới, nơi các tu sĩ Dòng Tên đặt chân tới để giúp các linh hồn và phục vụ anh chị em. Đó chính là tinh thần sống của Inhaxiô, một người lữ hành, và của những anh em Dòng Tên từ xưa cũng như hôm nay.

Từ đó trở đi, theo gương của Chúa Giêsu, các tu sĩ Dòng Tên đã đi đến từng phố phường, làng mạc…, để đem Tin Mừng của Chúa đến khắp mọi nơi, cùng chia sẻ và giúp đỡ từng tâm hồn nhận ra được tình yêu của Chúa, tin vào Tin Mừng của Ngài, và tập sống theo mẫu gương của Đức Kitô. Đặc biệt, ở đâu cần giúp đỡ hơn, ở đâu khó khăn hơn, ở đâu Tin Mừng Chúa cần “nở hoa” hơn thì các anh em Dòng Tên quyết tâm lên đường dấn thân nơi đó. Vì vậy mà Phanxicô Xaviê đã phải xa lánh nhóm bạn, đáp tàu đến một vùng đất xa xôi và lạ lẫm ở Ấn Độ và Nhật Bản, Mattheo Ricci và Adam Schall ở Trung Quốc, Alexandre de Rhode (cha Đắc Lộ) ở Việt Nam, và còn bao tu sĩ Dòng Tên khác đã đặt chân lên Nam Mỹ, Châu Phi.

Ngoài ra, môi trường phục vụ của dòng Tên ngày xưa, cũng như hiện nay với trên 20 ngàn tu sĩ tại 127 quốc gia, không giới hạn ở một chân trời nào cả. Không chỉ có chân trong triều đình nhà Vua thời xưa, mà còn ở những góc phố dơ bẩn tại Manila thời nay. Không chỉ ở tại những đại học danh tiếng như Georgetown University – Hoa Kỳ, mà còn tại những vùng hoang vu đất đỏ ở Việt Nam. Thực vậy, nơi nào Vinh Danh Thiên Chúa hơn, thì các tu sĩ Dòng Tên có mặt ở đó. (Lm Nguyễn Ngọc Thế, SJ).

3. Inhaxiô một vị thánh lớn của Giào hội

Trong khi các bạn đồng hành được Đức Giáo Hoàng sai đi truyền giáo thì Inhaxiô vẫn ở Roma, chăm sóc tổ chức mới của ngài nhưng vẫn dành thời giờ để thành lập các nhà cho cô nhi cho người tân tòng. Ngài thành lập Trường Roma (sau này là Ðại Học Grêgôriô), với mục đích là trường này sẽ trở nên khuôn mẫu cho các trường của Tu Hội.

Trong thị kiến ở La Storta, Inhaxiô xin và đã được “Chúa Cha xin Đức Giêsu vác thập giá nhận Inhaxiô làm người phục vụ”, và Đức Giêsu vác thập giá đã nói với Inhaxiô: “Ta muốn con phục vụ chúng ta”.

Thánh Inhaxiô qua đời ngày 31-7-1556, hưởng thọ 90 tuổi. Đức Giáo Hoàng Phaolô V phong chân phước cho ngài vào ngày 27-7-1609. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XV phong thánh ngày 13-3-1622. Lễ kính Thánh Inhaxiô vào ngày 31-7 hằng năm.

Thánh Inhaxiô đích thực là một nhà thần bí. Ngài tập trung vào đời sống tâm linh dựa trên các nền tảng thiết yếu của Kitô Giáo như Thiên Chúa Ba Ngôi, Ðức Kitô, Bí Tích Thánh Thể. Linh đạo của ngài được tỏ lộ trong châm ngôn của Dòng Tên “ad majorem Dei gloriam” nghĩa là "để Thiên Chúa được vinh danh hơn". Trong quan niệm của ngài, sự tuân phục là một đức tính nổi bật nhằm đảm bảo cho thành quả và sự năng động của tu hội. Mọi hoạt động phải được hướng dẫn bởi lòng yêu mến Giáo Hội thực sự và tuân phục Ðức Thánh Cha vô điều kiện. Vì lý do đó, mọi thành viên của dòng phải khấn lời thề thứ tư, đó là phải đến bất cứ đâu mà Đức Giáo Hoàng đã sai đi để cứu rỗi các linh hồn.

Các linh mục Dòng Tên gồm những nhà bác học, thần học, giáo dục, khoa học cho đến những nhà truyền giáo danh tiếng và nhiều đấng tử đạo. Những thần học gia vĩ đại, con cái của Thánh Inhaxiô như: Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955) và Henri de Lubac (1896-1991) của Pháp, Karl Rahner (1904-84) của Đức, Bernard Lonergan (1904-84) của Canađa và John Courtney Murray (1904-67) của Hoa Kỳ, Hans Urs von Balthasar (1905-88), người Thụy Sĩ…Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng là Tu sĩ Dòng Tên.

Đến ngày 1 tháng 1 năm 2012, tổng số tu sĩ Dòng Tên là 17.637 tu sĩ, trong đó có 12.526 linh mục, 1.470 tu huynh, 2.896 học viên và 745 tập sinh, phục vụ tại 133 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới trong 84 tỉnh dòng, 5 miền độc lập và 10 miền phụ thuộc. Các tu sĩ của Dòng có mặt trong hầu hết các hoạt động của Giáo Hội (suy tư thần học, giảng thuyết, mục vụ giới trẻ, giúp Linh thao, truyền giáo…) cũng như của xã hội (giáo dục, truyền thông, phục vụ người tị nạn và di dân,…) nhằm phục vụ và thăng tiến con người. Họ là các thần học gia, các vị linh hướng, giáo sư, kỹ sư, nhạc sĩ, nhân viên xã hội, tâm lý gia, bác sĩ, luật sư, nhà báo, nhà truyền giáo…(x.dongten.net).

Khi dâng lễ ở Nhà nguyện “hoán cải”, tôi suy gẫm về ơn trở lại của thánh nhân. Nhờ đọc sách thiêng liêng mà Inhaxiô được biến đổi.Thiên Chúa đã dùng sách thiêng liêng như một khí cụ để hoán cải Inhaxiô. Việc đọc sách thiêng liêng đã tạo nên nhiều vị thánh. Nhờ việc đọc sách thiêng liêng, con người trau dồi tri thức về giáo lý Kitô Giáo, đồng thời tìm được những kiến thức cho cuộc thưa chuyện mỗi ngày với Thiên Chúa. Một cuốn sách thiêng liêng hay có thể được coi như một người bạn tốt.

Thời đại kỹ thuật số hôm nay, các phương tiện truyền thông hằng ngày luôn tấn công con người bằng những âm thanh và hình ảnh thế tục, nó muốn tách lìa từng người ra khỏi Thiên Chúa. Một quyển sách tốt có thể trở thành một người bạn tuyệt vời, một nhà tư vấn khôn ngoan. Một quyển sách tốt là một kho tàng tâm linh. Một vài phút suy niệm về một bài đọc thiêng liêng sẽ giúp chúng ta gần Chúa hơn.

Inhaxiô là một vị đại thánh cho Giáo Hội và một nhân cách lớn cho xã hội. Ngài là một thiên tài trong lịch sử loài người. Nơi ngài, ân sủng và tự nhiên hòa hợp cách mỹ mãn để biến đổi một hiệp sĩ đầy tham vọng thế tục thành một vị thánh lớn để bước theo Chúa Kitô xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa và phục vụ mọi người.Thật khó mà mô tả đầy đủ những đức tính phong phú và có phần đối nghịch của Inhaxiô : hăng hái nhưng biết kềm chế; dũng cảm, quyết tâm, nhưng đơn sơ, cẩn trọng; mạnh mẽ, cương nghị nhưng dịu dàng, yêu thương. Một con người của những khát vọng lớn lao. Cả những tham vọng, đam mê thế tục. Trước khi hoán cải, phục vụ vua chúa trần gian, tìm kiếm danh vọng cho bản thân. Sau khi hoán cải, cũng với khát vọng và hoài bão lớn lao cố hữu, nhưng được thanh luyện, để không còn tìm kiếm chính mình mà tìm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Mừng lễ kính thánh Inhaxiô, xin Chúa cho mỗi người chúng ta được noi gương ngài luôn sống và làm việc "Để Thiên Chúa được vinh hiển hơn".
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.30/07/2014
N2T


34. Tôi tận lực làm tất cả mọi việc là chỉ để Thiên Chúa vui lòng.

(Thánh Terese of Lisieux)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Dịch trong “Cách ngôn thần học tu đức”


------------

http://nhantai.info

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

http://www.vietcatholic.net/nhantai
Mỗi ngày một câu chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.30/07/2014
MÔN ĐỒ KHÔNG MUỐN RỬA CHÂN
N2T

Chim nhạn rừng mát lòng hả dạ nói với Đấng tạo hóa:
- “Con đến làm môn đồ của Ngài có được không?”
_ “Tốt thôi”- Đấng tạo hóa chỉ con hạc đằng xa nói tiếp: “Con đi rửa chân cho nó, nó vừa mới đi qua một vũng bùn lầy lội”.
- “Cái gì?”- Nhạn rừng kinh ngạc kêu lên một tiếng không thèm chú ý, nói tiếp: “Con là môn đồ của Đấng tạo hóa, không thể nào đi phục vụ người khác được.”
Đấng tạo hóa cười nói:
- “Bé con, nếu con không phục vụ người khác, thì ai nhận ra được con là môn đồ của Ta chứ ?”
(Hạnh Lâm Tử)

Suy tư:
Nghi thức rửa chân chiều thứ Năm Tuần Thánh, thật vô cùng có ý nghĩa: Phục vụ.
Đối với người Do thái, tập quán chủ nhà rửa chân cho khách trước khi dự tiệc là biểu lộ sự kính trọng, yêu mến.
Đức Chúa Giê-su đã dùng tập quán này để dạy cho các tông đồ bài học khi Ngài rửa chân cho các ông, đó là phục vụ và yêu thương.
Sau khi rửa chân cho các tông đồ xong thì Đức Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ của mình: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cùng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 15).
Phục vụ là yêu thương, phục vụ là quên mình.
Nhưng có nhiều mục tử của Chúa đã để cho con chiên phục vụ mình nhiều hơn. Tôi đã tự mình nghe một linh mục nọ nói: “Chúng nó (giáo dân) phải lo cho mình chứ ?…”. Giáo Hội không để cho các linh mục của mình chết đói, giáo hữu cũng không để cho cha sở của mình chết đói, và trong thực tế có bao giờ nghe nói linh mục vì đói mà chết chưa, chắc chắn là chưa.
Phục vụ là yêu thương, là bao dung những thói xấu, những khuyết điểm và những cái chưa được tốt của anh em chị em, để làm cho nó tốt hơn bằng yêu thương và phục vụ của mình.
Phục vụ trong khiêm tốn, trong vui vẻ, trong lịch sự, trong sự tôn trọng nhân cách của tha nhân.
Phục vụ trong yêu thương là dấu hiệu của người môn đệ Đức Chúa Giê-su.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Dịch và viết suy tư

--------------
http://nhantai.info
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai
Văn Hóa
Bài ngợi ca Chúa Trời
Lê Đình Bảng30/07/2014
BÀI NGỢI CA CHÚA TRỜI

Ngợi khen Chúa, linh hồn tôi hớn hở
Và reo ca phơi phới những mùa vui
Hôm nay, trời nhật nguyệt sáng tinh khôi
Xin cảm tạ Ngài thương tôi bé mọn

Cây phước đức đã nảy ngành xanh ngọn
Từ trong sân đền thánh ngát hương hoa
Là nguồn mạch thiêng nhà Chúa tuôn ra
Như sữa, mật ong, dầu thơm, nguyệt quế

Để từ nay, đến muôn muôn thế hệ
Sẽ tung hô danh Chúa cả trên trời
Dưới bóng từ bi, tôi được nghỉ ngơi
Bông hoa dại nở trong vườn rào kín

Cả đời tôi là bài ca hạnh nguyện
Xin trọn một niềm tin kính, hiến dâng
Lạy Chúa Trời, tôi phó thác, xin vâng
Phận mỏng cánh chuồn, hơi may ghềnh đá

Đừng để tôi ra hư vô, tàn tạ
Như tiếng cầm ca buồn nhớ Sion
Một nhành cây non dễ gãy, héo hon
Con chim hót ở bìa rừng xa vắng.

Lê Đình Bảng
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Cá Vàng Tung Tăng
Đặng Đức Cương30/07/2014
CÁ VÀNG TUNG TĂNG
Ảnh của Đặng Đức Cương
Cá buồn cá lội tung tăng
Người buồn, người biết đãi đằng cùng ai..
(Ca dao)
VietCatholic TV
Video: Suy niệm cùng với Đức Thánh Cha Phanxicô: 24/07 -30/07/2014 : Câu chuyện Người Samaritanô Nhân Lành
VietCatholic Network30/07/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
1. Buổi đọc kinh Truyền Tin Trưa Chúa Nhật 27 tháng 7

Chúa Giêsu Kitô và Nước Thiên Chúa là kho tàng vĩ đại vô giá chúng ta cần tìm kiếm và hy sinh mọi sự để chiếm hữu.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi đoc kinh Truyền Tin tại quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa Nhật 27 tháng 7.

Đặc biệt, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã nhắc tới ngày kỷ niệm 100 năm Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ và kéo dài bốn năm trời, khiến cho hàng triệu người phải chết và gây ra các tàn phá mênh mông; một cuộc chiến mà Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã định nghĩa là một “sự tàn phá vô ích”, cuối cùng kết thúc bằng một nền hòa bình còn mong manh hơn. Ngài cầu mong dịp kỷ niệm biến cố thê thảm này khiến cho người ta đừng lập lại các sai lầm qúa khứ, nhưng chú ý đến bài học lịch sử, bằng cách để cho các lý lẽ của hòa bình luôn luôn thắng thế qua một cuộc đối thoại kiên nhẫn và can đảm. Đức Thánh Cha đặc biệt mời gọi mọi người hiệp ý với ngài cầu nguyện cho ba vùng đang gặp khủng hoảng nặng là vùng Trung Đông, Iraq và Ukraine. Xin Chúa ban cho các dân tộc và các chính quyền các vùng đó sự khôn ngoan và sức mạnh cần thiết để cương quyết theo đuổi con đường hòa bình, bằng cách vượt thắng mọi đả kích với sức mạnh của hòa giải và với sự kiên trì trong đối thoại. Ước chi ở trung tâm của mọi quyết định người ta đừng đặt để các lợi lộc riêng tư, nhưng chú ý trên hết đến công ích và việc tôn trọng mỗi người. Chúng ta hãy nhớ rằng mọi sự đều mất với chiến tranh, và không có gì để mất với hòa bình.

Đức Thánh Cha tha thiết kêu mời như sau:

“Anh chị em thân mến, không bao giờ chiến tranh! Không bao giờ chiến tranh! Tôi đặc biệt nghĩ tới các trẻ em, mà người ta đã cướp đi niềm hy vọng của một cuộc sống xứng đáng, đã cướp đi tương lai của chúng. Tôi nghĩ đến các trẻ em bị chết, các trẻ em bị thương, các trẻ em bị què cụt, các trẻ em mồ côi, các trẻ em có đồ chơi là các tàn tích chiến tranh, các trẻ em không biết cười. Tôi xin qúy vị, hãy dừng lại! Tôi xin qúy vị điều đó với tất cả con tim. Đã đến lúc dừng lại, hãy dừng lại, tôi van xin qúy vị!”.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đề cập đến ý nghĩa của các so sánh nói về Nước Trời trong chương 13 Tin Mừng theo thánh Mátthêu. Trong số đó có hai tuyệt tác: đó là các dụ ngôn về kho tàng chôn dấu trong ruộng và dụ ngôn viên ngọc qúy. Chúng nói với chúng ta rằng việc khám phá ra Nước Thiên Chúa có thể xảy ra một cách bất thình lình, như bác nông phu khi cầy cuộng, bất ngờ tìm thấy kho tàng mà ông không dám mơ, hay như người buôn ngọc, sau thời gian tìm kiếm lâu dài, tìm được viên ngọc vô cùng qúy báu mà ông đã hằng ao ước từ lâu. Nhưng trong cả hai trường hợp chúng ta thấy điều này là đối với bác nông phu và ông thương gia kho tàng và viên ngọc có giá trị hơn tất cả mọi của cải khác, và vì thế khi tìm thấy chúng, thì họ từ bỏ mọi sự để có thể mua chúng cho bằng được. Họ không cần lý luận hay suy đi nghĩ lại: họ nhận ra ngay giá trị không thể nào so sánh được của điều họ đã tìm ra, và sẵn sàng mất tất cả để có nó. Nước Thiên Chúa cũng thế: ai tìm được nó đều không nghi ngờ, đều cảm thấy rằng đó là điều họ đã tìm kiếm, đã chờ đợi và đáp ứng các khát vọng đích thật nhất của họ.”

Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

“Qủa thật là như thế: ai biết Chúa Giêsu, ai gặp Người một cách cá vị, thì bị mê hoặc, lôi cuốn bởi biết bao điều tốt lành, biết bao sự thật, biết bao vẻ đẹp, và tất cả trong một sự khiêm tốn và đơn sơ lớn lao. Tìm kiếm Chúa Giêsu, gặp gỡ Chúa Giêsu: đó là kho tàng vĩ đại!

Có biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu thánh nam thánh nữ, khi đọc Tin Mừng với con tim rộng mở, đã hoàn toàn bị Chúa Giêsu đánh động đến mức trở về với Người. Chúng ta hãy nghĩ tới thánh Phanxicô thành Assisi: ngài đã là một kitô hữu, nhưng môt kitô hữu “loại nước hoa hồng”. Khi đọc Phúc Âm trong một thời khắc định đoạt của tuổi trẻ, ngài đã gặp Chúa Giêsu và khám phá ra Nước Thiên Chúa; và khi đó tất cả các giấc mộng vinh quang trần thế của ngài đều biến mất. Phúc Âm làm cho anh chị em biết Chúa Giêsu đích thật, khiến cho anh chị em hiểu biết Chúa Giêsu sống động; nói với con tim anh chị em và thay đổi cuộc sống của anh chị em. Và khi đó anh chị em từ bỏ tất cả. Anh chị em có thể thay đổi kiểu sống một cách thực sự, hay tiếp tục làm những gì anh chị em làm trước đó, nhưng anh chị em là một người khác, một người đã được tái sinh: anh chị em đã tìm thấy điều trao ban ý nghĩa, điều trao ban mùi vị, trao ban ánh sáng cho tất cả, cả những mệt nhọc, cả những khổ đau và cả cái chết nữa.

Hãy đọc Phúc Âm. Chúng ta đã nói tới điều này rồi anh chị em có nhớ không? Mỗi ngày đọc một đoạn Phúc Âm, và mang theo một cuốn Phúc Âm nhỏ, trong túi, trong sắc tay, ở tầm tay. Và ở đó khi đọc một đoạn chúng ta sẽ tìm thấy Chúa Giêsu.

Đức Thánh Cha giải thích thêm như sau:

Mọi sự có ý nghĩa khi trong Phúc Âm bạn tìm thấy kho tàng này, mà Chúa Giêsu gọi là “Nước Thiên Chúa”, nghĩa là Thiên Chúa ngự trị trong cuộc sống bạn, trong cuộc sống chúng ta. Thiên Chúa là tình yêu, an bình và niềm hy vọng trong từng người và trong tất cả mọi người. Đó là điều Thiên Chúa muốn, đó là điều vì thế mà Chúa Giêsu trao ban chính mình cho tới chết trên thập giá, để giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của tối tăm và đưa chúng ta vào vương quốc của sự sống, vẻ đẹp, sự tốt lành và niềm vui. Đọc Phúc Âm là tìm thấy Chúa Giêsu, và nhờ ơn của Chúa Thánh Thần, chúng ta có được niềm vui Kitô.

Anh chị em thân mến, niềm vui tìm thấy kho tàng của Nước Thiên Chúa trong sáng và phải nên tỏ tường. Kitô hữu không thể dấu đức tin của mình, bởi vì nó tỏa rạng ra trong mọi lời nói, mọi cử chỉ cả trong những cử chỉ đơn sơ thường ngày: tỏa rạng tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta qua Chúa Giêsu. Chúng ta hãy cầu nguyện, qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, để nước tình yêu, công lý và hòa bình của Thiên Chúa đến giữa chúng ta.

2. Câu chuyện Người Samaritanô Nhân Lành

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Chúng ta phải đau lòng nhận thấy ngày nay bạo lực trên thế giới ngày càng có khuynh hướng lan rộng. Trong khi đó, lại có nguy cơ là người ta quen dần với thảm trạng này và quên đi các nạn nhân hằng ngày, quên đi những đau khổ khôn tả mà hàng triệu người tị nạn, trong đó có người già và trẻ em, đang phải đau khổ và nhiều khi đang chết vì đói và bệnh tật do chiến tranh gây ra.

Sự dửng dưng này làm đau lòng! Một lần nữa chúng ta phải lập lại cái tên của căn bệnh làm cho chúng ta rất đau buồn trên thế giới ngày nay, đó là hiện tượng toàn cầu hóa sự dửng dưng.

Nhân sinh quan “đèn nhà ai người nấy rạng”, “sống chết mặc bay” khiến chúng ta thờ ơ, không nhìn ra nơi những người đau khổ khuôn mặt của Chúa Kitô và không coi họ là những anh chị em của mình.

Câu hỏi: Ai là anh chị em của tôi vẫn vang vọng từ ngàn xưa đến nay.

Có người thông luật kia đứng lên hỏi Ðức Giêsu để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?" Ông ấy thưa: "Ngươi hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và anh chị em ngươi như chính mình". Ðức Giêsu bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống".

Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Ðức Giêsu rằng: "Nhưng ai là người anh chị em với tôi?"

Ðức Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. ình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.

Nhưng một người Samaritanô kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác". Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người anh em với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?"

Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Ðức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy".

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Bình luận về câu chuyện Người Samaritanô Nhân Lành, hôm 7 tháng 10 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô nói chúng ta có mở lòng mình ra để Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống của chúng ta, dẫn dắt chúng ta đi chệch khỏi các dự kiến của chúng ta hay không?

Đức Thánh Cha nói:

"Tôi tự hỏi bản thân mình, và tôi muốn hỏi tất cả anh chị em: Chúng ta có để cho Thiên Chúa viết lên cuộc sống của chúng ta không? Hay chúng ta muốn tự viết lấy?”

Vị tư tế và thầy Lêvi khi bỏ mặc người bị cướp đánh dở sống, dở chết bên đường đã “trực tiếp” và “tinh vi” chạy trốn khỏi Thiên Chúa.

“Dù là Kitô hữu, là người Công Giáo, là linh mục, là Giám Mục, là Giáo Hoàng đi nữa.. tất cả chúng ta đều có nguy cơ chạy trốn khỏi Thiên Chúa. Cám dỗ hàng ngày của chúng ta là không lắng nghe tiếng nói của Ngài, không nghe trong tim ta lời đề nghị, lời mời gọi của Ngài”

Đức Thánh Cha nhận xét rằng:

“Thầy tư tế đi ngang qua, xúng xính trong chiếc áo lễ, một tư tế sáng giá, tốt lắm. Nhưng khi thấy con người sống dở, chết dở kia thì tự nói với lòng mình: Ta sẽ dâng lễ trễ mất. Và ông ta dông thẳng. Ông không nghe tiếng của Thiên Chúa ở đó”.

Cũng thế, thầy Lêvi có thể đổ thừa cho phiên tòa sắp diễn ra để bỏ mặc nạn nhân, và lờ đi tiếng nói của Thiên Chúa.

Ngược lại, "người duy nhất có khả năng hiểu được tiếng nói của Thiên Chúa lại là một trong những người thường xa Chúa, một kẻ có tội, một người Samaritanô. Người Samaritanô này xa cách Thiên Chúa, nhưng anh nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa và đến gần. Anh không có thói quen thực hành tôn giáo, và đời sống luân lý, thậm chí có những sai lầm thần học bởi vì người Samari thờ Thiên Chúa ở một nơi không xứng hợp.”

Dù thế, người Samaritanô "hiểu rằng Chúa đã gọi anh ta, và anh ta đã không bỏ chạy. Thật vậy, ông đã dành cả tiền bạc và thời gian của mình cho người bị cướp”

Trong khi đó, Đức Thánh Cha Phanxicô nói, "vị linh mục đến kịp giờ cho Thánh Lễ, và tất cả các tín hữu hài lòng; người Lêvi cũng đã một ngày yên tĩnh, phù hợp với những gì ông đã lên kế hoạch để thực hiện vì ông chẳng dính líu gì với người đàn ông nửa sống nửa chết.

Trái tim của họ đã đóng lại, và khi trái tim của anh chị em đóng lại, anh chị em không thể nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa. Thay vào đó, người Samaritanô khi thấy người bị thương trên đường, anh chạnh lòng thương: trái tim nhân bản của anh được mở ra và anh được thu hút tới gần với Thiên Chúa.”

Đức Thánh Cha nói tiếp:

“Chúng ta có ngoan ngoãn lắng nghe Lời Ngài? Nhiều người nói rằng, ‘Chắc chắn rồi!’. "Nhưng anh chị em có sẵn sàng để lắng nghe và cảm nhận ra tiếng nói của Ngài không? Anh chị em có sẵn sàng để tìm kiếm Lời Chúa trong cuộc sống hàng ngày không, hay chỉ có những ý tưởng của riêng của anh chị em mới có quyền quy định tất cả mọi thứ, không để cho Chúa nói gì với anh chị em? "