Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
Bài giảng của Cha Raniero Cantalamessa trước ĐTC và Giáo Triều Rôma ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 18/04/2014
J.B. Đặng Minh An dịch20/04/2014
“Giuđa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ” (Ga 18:5)

Lịch sử Thiên Chúa – loài người trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu bao gồm nhiều câu chuyện nhỏ về những người nam nữ tham gia vào những mảng sáng, tối của biến cố này. Câu chuyện bi thảm nhất là câu chuyện của Giuđa Iscariot. Đây là một trong số ít các sự kiện được đề cập với cùng một mức nhấn mạnh như nhau bởi cả bốn sách Phúc Âm và phần còn lại của Tân Ước. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã suy tư rất nhiều về sự kiện này và chúng ta thật là bất cẩn nếu không làm như thế. Câu chuyện này có nhiều điều để nói với chúng ta.

Giuđa đã được lựa chọn ngay từ đầu trong Nhóm Mười Hai. Khi đưa tên ông ta vào trong danh sách các tông đồ, Thánh Sử Luca viết "Giuđa Iscariot, người trở thành (egeneto) một kẻ phản bội" (Lc 6:16). Như thế, Giuđa đã không phải là một kẻ phản bội từ lúc lọt lòng mẹ, và cũng chẳng phải là một kẻ phản bội lúc Chúa Giêsu chọn ông; sau này ông mới trở thành một kẻ phản bội! Chúng ta đang đứng trước một trong những thảm kịch bi đát nhất của tự do con người.

Tại sao anh ta trở thành một kẻ phản bội? Cách đây không lâu , khi luận đề về "Chúa Giêsu cách mạng" đang cuốn hút nhiều người, người ta cố gắng để gán cho hành động phản bội của Giuđa những động cơ mang tính lý tưởng. Có người nhìn thấy trong tên của ông ta "Iscariot" một chút biến tướng của từ sicariot, nghĩa là anh ta thuộc về một nhóm cuồng tín cực đoan chuyên sử dụng một loại dao găm (sica) để chống lại người La Mã. Lại có những người khác nghĩ rằng Giuđa đã thất vọng với Chúa Giêsu về cách Ngài trình bày "vương quốc Thiên Chúa" và muốn buộc Ngài ra tay hành động chống lại các dân ngoại cả trên bình diện chính trị. Đây là Giuđa của vở nhạc kịch nổi tiếng Jesus Christ Superstar và của những bộ phim và tiểu thuyết khác được chào đời gần đây - một Giuđa giống như một kẻ nổi tiếng đã phản bội ân nhân mình, là Brutus, người đã giết Julius Caesar để cứu nền Cộng hòa La Mã!

Đây là những tái tạo lại câu chuyện phải được tôn trọng nếu như chúng có giá trị văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, chúng không có bất kỳ cơ sở lịch sử nào. Những sách Phúc Âm là các nguồn đáng tin cậy duy nhất mà chúng ta có về nhân vật Giuđa đều đồng thanh nói về một động cơ rất trần tục: đó là tiền. Giuđa đã được giao phó giữ tiền của nhóm; khi bà Maria Mađalêna xức dầu thơm cho Chúa tại Bethany, Giuđa đã phản đối việc dùng dầu thơm quý giá để đổ lên chân Chúa không phải vì ông quan tâm đến người nghèo nhưng, như thánh Gioan lưu ý , "vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung."(Ga 12:6 ). Đề nghị của ông với các thượng tế thật là rõ ràng: ‘Các ông định cho tôi bao nhiêu, nếu tôi giao nạp Người cho các ông? Và các thượng tế ấn định số tiền là 30 đồng bạc’” (Mt 26,15).

Nhưng tại sao người ta lại ngạc nhiên trước lời giải thích này, câu trả lời hiển nhiên quá mà? Chẳng phải chuyện như thế vẫn luôn xảy ra trong lịch sử và vẫn xảy ra ngày hôm nay sao? Mammon, thần tài, không chỉ là một ngẫu tượng trong số rất nhiều những ngẫu tượng: nhưng đó là thứ ngẫu tượng trỗi vượt nhất, đó là thứ "thần được người ta đúc lên" (xem Xh 34:17 ) Và chúng ta biết lý do tại sao. Khách quan mà nói ai là kẻ thù thực sự, là đối thủ của Thiên Chúa trong thế giới này? Không phải Satan sao? Chẳng ai quyết định phụng sự Satan mà không có một động cơ . Bất cứ ai quyết định làm như vậy đều tin rằng họ sẽ có được một số quyền thế hoặc lợi ích trần tục nào đó từ hắn ta. Ngoài Thiên Chúa ra, một số người lại có một ông chủ khác đối nghịch với Thiên Chúa, Chúa Giêsu nói với chúng ta rõ ràng người chủ khác ấy là ai: "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được "(Mt 6:24 ). Tiền của là thứ “thần có thể nhìn thấy được” trái ngược với Thiên Chúa là Đấng vô hình.

Thần tài chống lại Thiên Chúa vì nó tạo ra nơi con người một vũ trụ tinh thần khác; nó thay đổi mục đích của nhân đức đối thần. Đức tin, hy vọng và lòng bác ái không còn được đặt vào Thiên Chúa nhưng vào tiền. Một đảo ngược nham hiểm của tất cả các giá trị xảy ra. Kinh Thánh nói: " Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin " (Mc 9:23), nhưng thế gian nói: "Có tiền mua tiên cũng được." Và trên một bình diện nhất định, mọi thứ dường như là như thế thật.

Kinh Thánh nói: "Lòng yêu mến tiền bạc là căn nguyên của mọi tội lỗi" (1 Tim 6:10). Đằng sau mọi sự dữ trong xã hội của chúng ta là tiền bạc, hay ít nhất cũng có dính líu đến tiền. Chúng ta nhớ lại trong Kinh Thánh câu chuyện các thanh niên nam nữ đã phải hy sinh cho thần Mo-lóc (x. Gr 32:35 ) hay câu chuyện thần Aztec mà hàng ngày một số lượng nhất định dân chúng bị giết để lấy tim dâng lên thần . Những gì nằm phía sau nạn buôn bán ma túy phá hủy rất nhiều cuộc sống của con người, đằng sau hiện tượng mafia, đằng sau việc tham nhũng của các chính trị gia, đằng sau việc sản xuất và bán các loại vũ khí, và thậm chí đằng sau một điều thật khủng khiếp - khi phải đề cập đến - là việc bán nội tạng con người lấy từ trẻ em? Và còn cuộc khủng hoảng tài chính mà thế giới đã và đang trải qua cũng như đất nước này vẫn còn đang gánh chịu, không phải phần lớn là do “sự ham hố tiền của đáng nguyền rủa” của một số người sao? Giuđa đã bắt đầu nhón khỏi ví chung cuả cả nhóm. Còn một số các quản trị viên công quỹ thì sao?

Tuy nhiên, bên cạnh những tội phạm hình sự để có tiền, còn có cả những xì căng đan trong đó một số người kiếm được tiền lương và hưu trí đôi khi cao hơn so với những người làm việc cho họ 100 lần và họ ồn ào phản đối khi một đề nghị được đưa ra để giảm tiền lương của họ ngõ hầu xã hội có thể công bằng hơn?

Trong những thập niên 1970 và 1980, tại Ý, để giải thích cho những thay đổi chính trị bất ngờ, những hành xử quyền lực bí ẩn, khủng bố, và tất cả các loại bí ẩn gây phiền hà cho cuộc sống dân sự, người ta bắt đầu đề cập đến ý tưởng bán thần thoại về sự tồn tại của một "Bố Già", một nhân vật quỷ quyệt và quyền thế là kẻ đứng sau hậu trường giật dây cho tất cả mọi chuyện để đạt đến những mục tiêu chỉ mình hắn ta biết mà thôi. “Bố Già” quyền uy ngất ngưởng này thực sự tồn tại và chẳng phải là một huyền thoại đâu. Tên hắn ta là tiền!

Giống như tất cả các ngẫu tượng khác, thần tài quỷ quyệt gian ngoa: nó hứa hẹn an ninh nhưng thay vào đó nó lấy đi; nó hứa hẹn tự do nhưng thực tế lại phá hủy tự do. Thánh Phanxicô Assisi , với một mức độ nghiêm khắc không thường thấy nơi ngài, đã mô tả giờ phút kết thúc cuộc đời của một người đã sống chỉ để làm tăng “vốn liếng” của mình. Khi gần chết ông ta mời linh mục đến. Vị linh mục hỏi người sắp chết, "Ông có muốn được tha thứ tất cả tội lỗi của ông không?" Và ông trả lời: "Thưa có." Linh mục hỏi tiếp: "Ông có sẵn sàng để sửa chữa những sai lầm ông đã gây ra, khôi phục lại những thứ ông đã lừa đảo của những người khác không? "người đàn ông sắp chết thều thào trả lời: "không, không thể được." "Tại sao lại không thể được?" "Bởi vì tôi đã giao phó mọi sự trong tay của người thân và bạn bè của tôi.". Như thế, ông ta chết đi mà không ăn năn hối cải, và trong khi thi hài ông bắt đầu lạnh dần người thân và bạn bè của ông tụ họp lại bên cạnh. Họ nói, "Thằng chết tiệt này! Lẽ ra nó nên kiếm nhiều tiền hơn để lại cho chúng ta mới phải chứ."

Bao nhiêu lần trong thời buổi này chúng ta lẽ ra phải suy nghĩ lại một lần nữa tiếng Chúa Giêsu kêu lên với người phú hộ trong dụ ngôn về người cứ lo thu tóm của cải bất tận và nghĩ rằng phần còn lại của cuộc đời mình sẽ được an toàn: "Đồ ngu! Nội đêm nay, mạng ngươi bị đòi lại, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? "(Lc 12:20)

Những người có quyền chức tham ô đến nỗi hết nhớ nổi ngân hàng nào, thiên đường tài chính nào tàng trữ bao nhiêu tiền tham nhũng của mình đã nhận ra bản thân mình đang bị xét xử tại tòa án hoặc tại một nhà tù đúng ngay vào lúc họ tự nhủ với lòng mình: "Yên tâm mà hưởng đi, hồn tôi ơi." Họ làm điều đó cho ai? Nó có đáng không? Phải chăng họ làm như thế vì lợi ích của con em và gia đình của họ, hoặc đảng phái của họ, nếu thực sự họ nghĩ như thế? Hay là chỉ hủy hoại bản thân và những người khác?

Sự phản bội của Giuđa vẫn tiếp tục xuyên suốt trong lịch sử, và người bị phản bội luôn luôn là Chúa Giêsu. Giuđa bán Đầu [ý chỉ Chúa Giêsu – chú thích của người dịch], trong khi những kẻ bắt chước ông bán phần thân mình, vì người nghèo là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô, cho dù họ biết điều đó hay không. "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy " (Mt 25:40 ) . Tuy nhiên , sự phản bội của Giuđa không chỉ tiếp tục trong phạm vi các nhân vật cao cấp các loại mà tôi vừa đề cập. Thật là an ủi cho chúng ta nếu được như thế, nhưng không phải vậy đâu. Bài giảng mà cha Primo Mazzolari vào Thứ Năm Tuần Thánh năm 1958, về "Anh Giuđa của chúng ta" vẫn còn rất nổi tiếng. Ngài nói với vài giáo dân ngồi trước mặt ngài, "Hãy để tôi suy nghĩ về cái tên Giuđa trong người tôi đây một lúc, về cái tên Giuđa, có lẽ cũng có cả bên trong anh chị em. "

Người ta có thể phản bội Chúa Giêsu để đổi lấy những thứ khác hơn là 30 đồng bạc. Một người đàn ông phản bội vợ mình, hoặc người vợ phản bội chồng, là phản bội Chúa Kitô. Các thừa tác viên của Chúa không trung thành với đấng bậc của mình trong cuộc sống, hoặc thay vì nuôi dưỡng những con chiên được giao phó cho ngài lại dùng những con chiên ấy như nguồn vỗ béo cho chính mình, là phản bội Chúa Giêsu. Bất cứ ai phản bội lương tâm của họ đều phản bội Chúa Giêsu. Thậm chí tôi có thể phản bội Ngài ngay lúc này đây- và điều này làm cho tôi run sợ - nếu như trong khi giảng về Giuđa tôi quan tâm đến sự đồng thuận của khán giả hơn là dự phần trong nỗi buồn bao la của Đấng Cứu Thế . Có một trường hợp giảm khinh trong trường hợp của Giuđa mà tôi không có. Ông ta không biết Chúa Giêsu là ai và chỉ coi Ngài là "một người công chính"; ông không biết rõ như chúng ta rằng Ngài là Con Thiên Chúa!

Mỗi năm khi Mùa Phục Sinh đến gần, tôi đều muốn nghe lại bản "Cuộc thương khó Chúa Kitô theo Thánh Matthêu" của Bach. Nó bao gồm một chi tiết khiến tôi rùng mình mỗi lần. “Ðang bữa ăn, Người nói: Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Mt 26:21). Khi Chúa Giêsu thông báo như thế, tất cả các tông đồ đều hỏi Chúa Giêsu : "Có phải con không, thưa Thầy?" Trước khi chúng ta nghe câu trả lời của Chúa Kitô , nhà soạn nhạc - xóa đi khoảng cách giữa biến cố và việc tưởng niệm biến cố ấy - thêm vào một hợp xướng bắt đầu như thế này: "Đó là con; Con là kẻ phản bội! Con cần phải đền bù tội lỗi con." Giống như tất cả các hợp xướng thánh ca trong tác phẩm âm nhạc này, nó thể hiện tình cảm của những người đang lắng nghe. Nó cũng là một lời mời gọi chúng ta xưng thú tội lỗi mình.

Tin Mừng mô tả cái kết cục khủng khiếp của Giuđa: "Bấy giờ, Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: "Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan". Nhưng họ đáp: ‘Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!’ Giuđa ném số bạc vào Ðền Thờ rồi lui ra và đi thắt cổ" (Mt 27:3-5). Nhưng chúng ta không nên đưa ra một phán quyết vội vàng ở đây. Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi Giuđa, và không ai biết, sau khi ông treo mình lên cây với một sợi dây thừng quanh cổ, ông ta sẽ đi về đâu: trong tay của Satan hay trong bàn tay của Thiên Chúa. Ai có thể biết được điều gì đã loé lên trong tâm hồn ông trong những giây phút cuối cùng này? “Bạn” là từ cuối cùng mà Chúa Giêsu gọi ông, và ông không thể quên được, cũng giống như ông không thể quên ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn ông.

Đúng là khi nói chuyện với Chúa Cha về các môn đệ của Ngài, Chúa Giêsu đã nói về Giuđa, “không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng”(Ga 17:12) . Nhưng ở đây, như trong rất nhiều trường hợp khác, Ngài đang nói từ quan điểm của thời gian và không phải vĩnh hằng. Tầm cỡ của sự phản bội này tự mình đã đủ, không cần phải tính đến sự thất bại đó là vĩnh cửu để giải thích một bản án đáng sợ khác nói về Giuđa: “Ðã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mc 14 : 21). Số phận đời đời của một con người là một bí mật bất khả xâm phạm được gìn giữ bởi Thiên Chúa. Giáo Hội bảo đảm với chúng ta rằng một người nam hay một người nữ được công bố là một vị thánh đang được nếm hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng Giáo Hội không biết chắc chắn rằng một người cụ thể nào đó đã phải sa hoả ngục hay không.

Dante Alighieri, là một nhà thơ, là người đã đặt Giuđa trong tầng cuối cùng sâu nhất của địa ngục trong tác phẩm Divine Comedy của mình, đã kể về việc hoán cải vào giờ phút cuối cùng của Manfred, con trai Hoàng Đế Frederick II và là vua xứ Sicily, người mà tất cả mọi người vào thời điểm đó đều coi y là đáng nguyền rủa vì ông đã chết trong vạ tuyệt thông. Bị thương chí mạng trong một trận chiến, Manfred tâm sự với nhà thơ rằng vào thời điểm cuối cùng của cuộc đời mình, " ... trong than khóc, tôi đã phó linh hồn tôi cho Đấng đã sẵn sàng tha thứ" và ông đã gửi một tin nhắn từ Luyện Ngục về trái đất mà ngày nay vẫn còn có liên quan tới chúng ta:

Khủng khiếp là bản chất của tội lỗi tôi, nhưng lòng thương xót vô biên mở rộng vòng tay của mình cho bất kỳ người nào tìm kiếm nó.

Đây là điều mà câu chuyện về người anh em Giuđa của chúng ta nên khiến chúng ta phải làm: ấy là sấp mình trước Đấng sẵn lòng tha thứ cho chúng ta cách nhưng không, là ném mình tương tự như vậy vào cánh tay đang dang ra của Đấng chịu đóng đinh. Điều quan trọng nhất trong câu chuyện của Giuđa không phải là sự phản bội của ông ta nhưng là phản ứng của Chúa Giêsu đối với ông. Ngài biết rõ những gì đã phát triển trong trái tim người môn đệ mình, nhưng Ngài không phơi bày ra; Ngài muốn cho Giuđa cơ hội cho tới tận phút cuối cùng để quay trở lại, và gần như che chắn cho anh ta. Ngài biết lý do tại sao Giuđa đến vườn ô liu, nhưng Ngài không từ chối nụ hôn lạnh lùng của y và thậm chí còn gọi y là "bạn" (xem Mt 26:50 ). Ngài đã tìm ra Phêrô sau khi chối Chúa để tha thứ cho ông, vì vậy Ngài có thể đã tìm ra Giuđa tại chỗ nào đó trên đường lên núi Sọ! Khi Chúa Giêsu cầu nguyện từ trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng; vì chúng không biết việc chúng làm "(Lc 23:34) , Chúa chắc chắn không loại trừ Giuđa trong số những người mà Ngài cầu nguyện cho.

Vì vậy, những gì chúng ta sẽ làm là gì? Ai là người mà chúng ta nên noi theo, Giuđa hay Phêrô? Phêrô đã hối hận vì những gì ông đã làm, nhưng chẳng phải Giuđa cũng đã hối hận đến mức bật khóc sao? "Tôi đã phản bội máu người vô tội!" Và ông đã trả lại ba mươi đồng bạc. Vậy đâu là sự khác biệt? Chỉ là một điều này thôi: đó là Phêrô thì tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa Kitô, còn Giuđa thì không! Tội lỗi lớn nhất của Giuđa không phải là phản bội Chúa Kitô nhưng là đã nghi ngờ lòng thương xót vô biên của Ngài.

Nếu chúng ta đã bắt chước Giuđa ít nhiều trong sự phản bội của ông, chúng ta đừng bắt chước ông trong sự thiếu niềm tin vào sự tha thứ. Có một bí tích mà qua đó chúng ta có thể kinh nghiệm chắc chắn về lòng thương xót của Chúa Kitô: đó là bí tích hòa giải. Bí tích này tuyệt vời là ngần nào! Thật là ngọt ngào để cảm nghiệm về Chúa Giêsu là Thầy, là Chúa , nhưng thậm chí còn ngọt ngào hơn để cảm nghiệm Ngài là Đấng Cứu Thế, là Đấng lôi anh chị em ra khỏi vực thẳm, như Ngài đã kéo Phêrô khỏi chìm xuống biển, để cảm nghiệm Ngài là Đấng đã chạm vào anh chị em như Ngài đã làm với người bị bệnh phong, và nói với anh chị em, “Tôi muốn, anh sạch đi” (Mt 8:3) .

Bí tích Hòa Giải cho chúng ta cảm nghiệm chính bản thân mình những gì Giáo Hội nói về tội lỗi của A Dong vào đêm Phục Sinh trong bài "Vinh Tụng Ca": "Ôi tội hồng phúc vì đã đem đến một Đấng Cứu Chuộc vĩ đại và vinh quang" Chúa Giêsu biết làm thế nào để lấy đi tất cả tội lỗi của chúng ta, khi chúng ta có lòng ăn năn, và làm cho những tội lỗi này thành "tội hồng phúc", những tội lỗi đó sẽ không còn được nhớ đến, chúng chỉ là dịp để chúng ta cảm nghiệm lòng thương xót và sự dịu dàng của Thiên Chúa.

Tôi có một mong muốn cho bản thân mình và cho tất cả những người cha, người anh, người chị, người em đáng kính: đó là cầu xin cho vào sáng Phục Sinh, chúng ta có thể thức giấc và để cho những lời của một người cải đạo vĩ đại trong thời hiện đại là Paul Claudel, vang vọng trong trái tim của chúng ta.

Thiên Chúa của con, con đã được hồi sinh, và con sống với Chúa một lần nữa!

Con đang mê ngủ, duỗi thẳng tứ chi như một người đã chết trong đêm. Chúa nói: " Hãy có ánh sáng!" Và con tỉnh dậy òa khóc!

Cha của con, Chúa là Đấng đã ban cho con cuộc sống trước lúc rạng đông, con đặt bản thân con trong sự hiện diện của Chúa.

Con tim con tự do và miệng của con sạch sẽ; cơ thể và tinh thần của con đang chay tịnh. Con đã được xá khỏi tất cả các tội lỗi của con, những tội con đã thú nhận từng tội một .

Chiếc nhẫn cưới trên ngón tay con và khuôn mặt của con được rửa sạch. Con giống như một con người vô tội trong ân sủng mà Ngài ban cho con.

Đây là những gì lễ Vượt Qua của Chúa Kitô có thể làm cho chúng ta.
Ngàn hoa trong vườn của sự sống lại và hòa bình của Đấng đã Phục Sinh
Bùi Hữu Thư20/04/2014
Đức Thánh Cha cầu nguyện với Đức Ki-tô hiển vinh cho toàn thế giới

Rome, 20 tháng 4, 2014 (Zenit.org)

Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên bố trong điệp văn ngày Phục Sinh, trước khi chúc lành cho toàn thế giới và cho Thành Rôma - Urbi et Orbi - từ loggia (Phòng tiếp tân của cung điện Vatican), và nài xin Chúa Kitô ban hòa bình cho toàn thế giới: “Đây là đỉnh cao của Phúc Âm, đây là Tin Mừng tuyệt vời nhất: Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại!”

Trước đó Đức Thánh Cha đã chủ tế Thánh Lễ Phục Sinh, trong “vườn” của sự sống lại, hàng năm được trang hoàng bởi 30 công ty sản xuất hoa trên thềm của quảng trường Thánh Phêrô, với muôn mầu hoa: 2 500 bông hồng Avanlanche, 6 000 hoa huệ đủ mầu và 8 000 hoa huệ vàng, thêm 1 200 hoa tulip đỏ, vàng, cam, trắng, hồng và tím, 2 500 hoa jacinthe thơm ngào ngạt, rhododendron, hoa mận, acer, forsithia vàng, strelizia, magnolia, delphinum trắng, xanh, hồng, nâu, và các hoa đặc biệt khác như hoa eliconia mầu da cam... Và tại loggia có những hoa lan trắng mảnh mai...

Đây là một truyền thống bắt đầu từ năm 1985, nhờ ông Nic van der Voort nhân dịp phong chân phước cho Thánh Titus Bransma: ngày nay được em của ông là Charles van der Voort tiếp tục. Đây là một công trình vĩ đại, ông Charles van der Voort tâm sự với hãng thông tấn Zenit, hàng năm phải ước tính số lượng hoa cần thiết cho Chúa Nhật Phục Sinh, tùy theo nhiệt độ của mùa xuân: năm nay ấm nhiều hơn thường lệ.

Ông đã giải thích rằng có hai xe vận tải hoa đã chạy trong 24 tiếng để cho sự phục sinh của Chúa được thể hiện năm nay với bao nhiêu hương thơm ngào ngạt, bao nhiêu mầu sắc và hình thể chung quanh bàn thờ, trước tòa Đức Thánh Cha, trước các tượng Chúa Ki-tô Cứu Thế, và tượng Đức Mẹ cùng Chúa Hài Nhi.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã không quên cám ơn ông Charles van der Voort sau khi ban phép lành về công trình tuyệt vời này.

Một vẻ huy hoàng này, một sự bùng nổ của sức sống này trái nghịch với các vết thương trên toàn thế giới. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc tới và cầu xin quyền năng vinh hiển của Chúa Ki-tô Phục Sinh ban hòa bình cho Miền Trung Phi Châu, xứ Nigeria, các nước Phi Châu bị tàn phá bởi chiến tranh hay vì dịch vi khuẩn Ebola, nước Syria yêu quý (về sự can đảm trong việc thương lượng cho hòa bình), Đất Thánh, Iraq, Nam Sudan, Venezuela, và Ukraine (để ngăn chăn sự bạo tàn và xây dựng tương lai của quốc gia này trong một tinh thần hiệp nhất và đối thoại), gánh nặng và sự ô nhục của nạn đói kém, khai thác con người, của những đau khổ, phung phí, và số phận của những người bị giam cầm.
Thông Điệp Phục Sinh Urbi et Orbi 2014 của Đức Thánh Cha Phanxicô
J.B. Đặng Minh An dịch20/04/2014
Anh chị em thân mến, Chúc Mừng Phục Sinh!

Giáo Hội trên khắp thế giới vang vọng thông điệp của thiên thần cho những người phụ nữ: “Tôi biết các bà tìm Ðức Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy... Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm” (Mt 28:5-6)

Đây là đỉnh cao của Tin Mừng, đó là Tin Vui tuyệt hảo: Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại! Biến cố này là cơ sở của niềm tin và hy vọng của chúng ta. Nếu Chúa Kitô không sống lại, Kitô giáo sẽ mất đi chính ý nghĩa của nó; toàn bộ sứ mệnh của Giáo Hội sẽ mất hết xung động, đây là điểm khởi đầu và tiếp tục mở ra bất tận những điều mới mẻ. Thông điệp mà các Kitô hữu mang đến cho thế giới này là: Chúa Giêsu, là tình yêu nhập thể, đã chết trên thập tự giá cho tội lỗi của chúng ta, nhưng Chúa Cha đã cho Ngài sống lại và đặt Ngài trở thành Chúa của sự sống và cái chết. Trong Chúa Giêsu, tình yêu đã chiến thắng hận thù, lòng thương xót lướt thắng tội lỗi, sự thiện hảo chiến thắng trên sự dữ, sự thật vượt lên trên dối trá, sự sống đánh bại sự chết.

Đó là lý do tại sao chúng ta nói với mọi người: “Hãy đến và xem” Trong mọi tình huống của con người, ghi dấu bởi sự yếu đuối, tội lỗi và cái chết, Tin Mừng không chỉ đơn thuần là những từ ngữ, nhưng là một chứng tá cho tình yêu vô điều kiện và trung tín: đó là chuyện để lại chính mình phía sau và gặp gỡ những người khác, gần gũi với những người bị chà đạp bởi những vấn nạn trong cuộc đời, chia sẻ với những người nghèo, đứng bên cạnh người bệnh, người già và người bị bỏ rơi. .. “Hãy đến và xem !” Tình yêu là mạnh hơn, tình yêu trao ban cuộc sống, tình yêu làm cho hy vọng nở hoa trong chốn hoang dại.

Với niềm vui chắc chắn này trong tâm hồn, hôm nay chúng con hướng về Ngài, Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh!

Xin Chúa giúp chúng con tìm kiếm Chúa và gặp thấy Chúa, để nhận ra rằng chúng con có một Cha và không phải là những trẻ mồ côi; và chúng con có thể yêu thương và tôn thờ Chúa.

Xin Chúa giúp chúng con vượt qua tai ương đói kém, ngày càng trầm trọng hơn bởi các cuộc xung đột và các lãng phí to lớn mà thường là chúng con phải chịu trách nhiệm.

Xin Chúa cho chúng con có thể bảo vệ những người dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ và người cao tuổi, những người đôi khi bị khai thác và bị bỏ rơi.

Xin Chúa cho chúng con có thể chăm sóc cho anh chị em của chúng con đang gánh chịu trận dịch Ebola ở Guinea Conakry, Sierra Leone và Liberia, và có thể chăm sóc cho những người mắc rất nhiều bệnh khác nữa cũng lây lan bởi sự thờ ơ và nghèo đói cùng cực.

Xin Chúa an ủi tất cả những ai không thể mừng lễ Phục Sinh này với những người thân yêu của họ, vì họ đã bị chia lìa một cách bất công khỏi những tình thân, như nhiều người, linh mục và giáo dân, đã bị bắt cóc ở nhiều miền khác nhau trên thế giới.

Xin Chúa an ủi những người phải bỏ lại sau lưng đất nước của họ để di dân đến những nơi cho họ chút hy vọng về một tương lai tốt hơn và khả năng có thể sống trong phẩm giá và có thể tự do tuyên xưng đức tin của mình.

Chúng con xin Chúa, Lạy Chúa Giêsu, xin chấm dứt tất cả các cuộc chiến tranh và mọi xung đột, lớn nhỏ, cũ mới.

Chúng con cầu nguyện cách đặc biệt cho Syria, xin cho tất cả những người bị ảnh hưởng của cuộc xung đột có thể nhận được viện trợ nhân đạo cần thiết và không một bên nào tái sử dụng vũ lực chết người, đặc biệt là trên những người dân vô phương tự vệ, nhưng thay vào đó là mạnh dạn đàm phán cho nền hòa bình lâu dài đã được mong ngóng quá lâu!

Xin Chúa an ủi các nạn nhân của các hành vi bạo lực huynh đệ tương tàn tại Iraq và nâng đỡ hy vọng vừa loé lên từ việc nối lại các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine.

Chúng con xin Chúa chấm dứt các cuộc xung đột tại nước Cộng hòa Trung Phi và ngưng các cuộc tấn công khủng bố tàn bạo trong các miền tại Nigeria cũng như các hành vi bạo lực ở Nam Sudan.

Chúng con xin lòng trí con người có thể hướng đến hòa giải và hòa hợp huynh đệ tại Venezuela.

Nhờ sự Phục Sinh của Chúa, mà năm nay chúng con cử hành cùng một thời điểm với các Giáo Hội sử dụng lịch Julian, chúng con xin Chúa soi sáng và truyền cảm hứng cho những sáng kiến nhằm thúc đẩy hòa bình ở Ukraine để tất cả những người có liên quan, với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, sẽ đưa ra mọi nỗ lực để ngăn chặn bạo lực và vạch ra một con đường cho tương lai của đất nước trong một tinh thần đoàn kết và đối thoại.

Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho tất cả các dân tộc trên trái đất này: Chúa là Đấng đã chiến thắng sự chết, xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, xin ban cho chúng con bình an của Chúa!
Bài Giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Lễ Vọng Phục Sinh 2014
J.B. Đặng Minh An dịch20/04/2014
Tin Mừng về sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô bắt đầu với hành trình của những người phụ nữ đến mộ vào lúc bình minh vào ngày kế tiếp ngày Sa-bát. Họ đi đến ngôi mộ để chăm sóc cho thi hài của Chúa, nhưng họ nhận thấy ngôi mộ đã mở toang ra và trống rỗng. Một thiên thần oai vệ nói với họ: "Đừng sợ !" (Mt 28:5 ) và truyền cho họ hãy đi và nói với các môn đệ rằng "Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Galilê trước các ông." ( câu 7). Những người phụ nữ vội vã lên đường và trên đường đi Chúa Giêsu đã gặp họ. Ngài nói: "Đừng sợ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó" (câu 10).

Sau cái chết của Thầy, các môn đệ đã tản mác; đức tin của họ đã bị lung lay hoàn toàn, tất cả mọi thứ dường như đã kết thúc, tất cả những xác tín của họ đã sụp đổ và hy vọng của họ đã chết. Nhưng giờ đây thông điệp của những người phụ nữ, tự nó là không thể tin được, đến với họ như một tia sáng trong bóng tối. Tin tức loan đi: Chúa Giêsu đã sống lại như Ngài đã phán. Và sau đó có cả lệnh truyền của Ngài hãy đi Galilê. Những người phụ nữ đã nghe lệnh truyền này hai lần, lần đầu tiên từ thiên thần và sau đó từ chính Chúa Giêsu: "báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó ".

Galilê là nơi mà các tông đồ lần đầu tiên gặp Chúa, nơi mà mọi thứ bắt đầu! Trở lại đó, tức là quay trở lại nơi mà họ được kêu gọi ban đầu. Chúa Giêsu đã đi bộ dọc theo bờ hồ trong khi những ngư phủ này đang thả lưới. Ngài đã kêu gọi họ, và họ đã bỏ mọi sự mà theo Người (x. Mt 4:18-22 ).

Trở về Galilê có nghĩa là đọc lại tất cả mọi thứ trên cơ sở của thánh giá và vinh quang của thánh giá. Đọc lại tất cả mọi thứ - những lời rao giảng của Chúa, các phép lạ của Ngài, cộng đoàn mới, những phấn khích và đào tẩu, ngay cả sự phản bội - đọc lại tất cả mọi thứ bắt đầu từ cái sau cùng, dưới ánh sáng của hành động là tuyệt đỉnh của tình yêu. Đó là một khởi đầu mới.

Đối với mỗi người chúng ta cũng có một "Galilê" là nguồn gốc cuộc hành trình của chúng ta với Chúa Giêsu. "Đi đến Galilê " có nghĩa là một cái gì đó rất đẹp, nó có nghĩa là tái khám phá bí tích rửa tội của chúng ta như một suối nguồn sự sống, là kín múc năng lượng mới từ nguồn mạch đức tin và kinh nghiệm Kitô của chúng ta. Trở về Galilê trên tất cả có nghĩa là trở về với ngọn lửa mà ân sủng của Thiên Chúa đã chạm vào tôi lúc bắt đầu cuộc hành trình với Ngài. Từ ngọn lửa đó tôi có thể đốt lên ngọn lửa cho ngày hôm nay và cho mỗi ngày, và mang lại sức nóng và ánh sáng cho anh chị em của tôi. Ngọn lửa này loé lên một niềm vui khiêm nhường, một niềm vui mà u sầu và đau khổ không thể làm mất tinh thần, một niềm vui tốt lành và nhẹ nhàng.

Trong đời sống của mỗi Kitô hữu, sau phép rửa tội cũng có là một “Galilê” hiện sinh hơn: đó là kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu Kitô Đấng đã gọi tôi theo Ngài và chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Theo nghĩa đó, trở về Galilê là lưu giữ trong trái tim tôi ký ức sống động về lời mời gọi, khi Chúa Giêsu đi ngang qua tôi, nhìn tôi chăm chú với lòng thương xót và gọi tôi theo Ngài. Nó có nghĩa là làm sống lại ký ức về thời điểm khi mắt Ngài gặp gỡ mắt tôi, thời điểm khi Ngài làm tôi nhận ra rằng Ngài yêu thương tôi.

Hôm nay, tối nay, mỗi người chúng ta có thể hỏi: Galilê của tôi là gì ? Galilê của tôi ở đâu? Tôi có nhớ nó không? Hay tôi đã quên nó rồi? Hay tôi đã đi chệch khỏi những con đường cho nên tôi đã quên nó? Lạy Chúa, xin giúp con: cho con biết Galilê của con ở đâu; vì Chúa muốn con trở lại đó gặp Chúa và để cho con được ôm ấp bởi lòng thương xót Chúa.

Tin Mừng Phục Sinh rất rõ ràng: chúng ta cần phải trở lại đó, để thấy Chúa Giêsu phục sinh, và trở thành chứng nhân phục sinh của Người. Điều này không phải là đi ngược thời gian; nó không phải là một loại hoài niệm quá khứ. Nó là trở lại với mối tình đầu của chúng ta với Chúa, để nhận được ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã nhen nhóm trong thế giới này và mang ngọn lửa ấy đến cho tất cả mọi người, khắp cùng bờ cõi trái đất.

"Galilê của dân ngoại" (Mt 4:15; Is 08:23 ) ! Chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; mong muốn mãnh liệt của cuộc gặp gỡ. .. Nào chúng ta hãy lên đường! "
Tin Giáo Hội Việt Nam
Hát Mừng Phục Sinh – Ca đoàn Teresa – Tây Úc
Ca đoàn Teresa – Tây Úc20/04/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
11 tân tòng GXVN Paris lãnh nhận bí tích rửa tội và thêm sức
Trần Văn Cảnh20/04/2014
Paris, Chúa Nhật Phục Sinh 20/04/2014, Giáo Xứ Việt Nam đã được hân hạnh đón tiếp 11 tân tòng, hiệp thông với 3 631 tân tòng trong Giáo Hội Pháp. Đây là một chuẩn bị kỹ lưỡng và tương đối lâu dài. Đa số đã theo học cả hơn năm nay. Không kể lễ nghi chung « Được gọi chính thức » với các dự tòng khác ở nhà thờ Đức Bà Paris với Đức Hồng Y Tổng Giám Mục André Vingt-Trois, riêng tại Giáo Xứ hai lễ nghi đã được cử hành: lễ dự tòng gia nhập công đoàn vào Chúa Nhật I mùa vọng và lễ tân tòng lãnh nhận bí tích rửa tội và thêm sức vào Chúa Nhật Phục Sinh hôm nay.

Mở đầu thánh lễ, Đức ông chủ tế đã xin cộng đoàn thêm lời cầu nguyện cho 11 quí Ông bà, Anh chị tân tòng: A. Jacques Tống Huỳnh Tiến, B. Nathalie Nguyễn Thị Hồng, Ô. Joseph Trần Quang Tuấn Robert, B. Trần Thị Chung, B. Marie Trần Thu Vân, A. Dominique Phúc Sang Gourdou, B. Sophie Thảo Audinet, B. Rita Đinh Ngọc Châu Roseline, B. Marie Nguyễn Thị Phấn, Ô. Pierre Trần Minh Phước, B. Marie Lưu Thị Lựu.

Chia sẻ Tin Mừng, Đức Ông Mai Đức Vinh đã nhắc lai lời « Công bố Tin mừng Phục Sinh »: « Hãy vui lên, hỡi ca đoàn thiên sứ, hãy vui lên, hỡi những mầu nhiệm thánh. Tiếng loa cứu độ, hãy vang khúc mừng Vua Cả khải hoàn. Vui lên, hỡi trái đất rực rỡ trong ánh sáng huy hoàng của Vua muôn thủơ, hãy vui mừng, vì được thoát vòng tối tăm của vũ trụ. Vui lên, Mẹ Hội Thánh trong muôn ánh sáng lung linh, và thánh đường, hãy vang lên tiếng ca hát của toàn dân ».

Chúng ta vui mừng vì Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế đã vâng lời nhập thế và nhập thế, đã vâng lời chịu khổ hình, đã chết vì yêu thương nhân loại, đã phục sinh từ cõi chết để chứng tỏ Mình là Thiên Chúa. Chúng ta vui mừng vì được đón nhận 11 tân tòng gia nhập Giáo Hội, 11 anh em giáo hữu mới. Chúng ta vui mừng, vì cùng với 11 anh chị em tân tòng, chúng ta làm chứng cho Tin Mừng của Đầng Cứu Thế, làm chứng cho đức tin của chúng ta.

Chúng ta vui mừng vì chúng ta đã được lãnh nhận bí tích phép rửa, nhờ đó, ta được liên đới với cái chết hồng phúc và liên đới với sự phục sinh, thắng vượt cái chết của Đức Kitô. Xin Chúa cho chúng ta luôn trung thành với niềm tin mà chúng ta đã tuyên xưng khi lãnh nhận phép rửa, Xin Chúa cho chúng ta can đảm sống và tuyên xưng niềm tin của bí tích phép rửa mà chúng ta đã lãnh nhận. Xin Các Thánh Tử Đạo tiền nhân cầu bầu cho chúng ta được trung kiên giữ vững niềm tin, chung thủy sống niềm tin và nhiệt thành rao giảng niềm tin.

Thánh lễ hết, các tân tòng được mời chụp chung với các giáo sĩ đồng tế một tấm hình kỷ niệm. Nhiều nhóm nhỏ đã đặt sẵn phần ăn, để họ hàng và bạn bè quây quần, mừng các tân tòng và nghe họ kể tâm tình. Nhiều người bắt đầu kể về Đức Kytô, như động lực nào đã thúc đẩy và khai sáng họ đi vào niềm tin.

Paris, ngày 20 tháng 04 năm 2014

Trần Văn Cảnh
Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng ưu ái dân tộc Việt Nam
Trần Hiếu20/04/2014
Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng ưu ái dân tộc Việt Nam

Cùng với Giáo Hội hoàn vũ, tín hữu Việt Nam vui mừng trước biến cố Đức Gioan Phaolô II được tuyên phong hiển thánh vào ngày 27/4/14. Ngài không những là ân huệ lớn lao Chúa đã ban cho thế giới mà còn là một ân nhân đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Với tình thương bao la, ngài luôn dành cho Việt Nam một chỗ đầy ưu ái trong trái tim rộng mở của ngài.

Đúng nghĩa một lãnh tụ tinh thần, với vũ khí là Lời Chúa, sự thật và phong trào quần chúng bất bạo động, ngài đã làm thay đổi lịch sử thế giới, khiến công luận gọi ngài là "lương tâm của thế giới", "con người của thế kỷ". Là mục tử của một tỷ tín hữu, ngài không ngần ngại thẳng thắn lên tiếng trước các nguy cơ suy đồi luân lý và phô bày tấm lòng thao thức của ngài trước những đàn áp bất công mà nhiều dân tộc đang phải gánh chịu, trong đó có Việt Nam.

Ngay khi vừa mới đăng quang giáo hoàng năm 1978, với một xúc động mãnh liệt trước cao trào thuyền nhân Việt bỏ nước ra đi, ngài đã mạnh mẽ lên tiếng kêu gọi thế giới cứu giúp người tỵ nạn. Trong dịp thăm viếng các quốc gia vùng Đông Nam Á, ngài đã hiện diện trong các trại tạm cư để vỗ về an ủi và xoa dịu sự cô đơn của những thuyền nhân đói khổ, cũng như nhằm gây sự chú ý của lương tâm thế giới trước thảm cảnh thời đại.

Chính ngài đã làm gương trong nổ lực đón tiếp người tỵ nạn bằng việc bảo trợ một gia đình Việt Nam đến tạm trú tại Vatican. Khi được một thương thuyền Thổ Nhĩ Kỳ vớt lên nơi Biển Đông tháng 5, 1978, gia đình ông Nguyễn Thành và các bạn cùng chuyến ghe vượt biên từ Cửa Hàn, Đà Nẵng, được đưa đến Djibouti, Phi Châu. Trong 15 tháng tạm trú tại đây, nhóm 11 người gần như tuyệt vọng giấc mơ định cư tại một quốc gia Tây Phương. Thế rồi bất chợt họ được đưa về Rôma, trú ngụ trong một căn chung cư nơi khuôn viên Tòa Thánh Vatican, không xa văn phòng làm việc của Đức Giáo Hoàng. Sau ba tháng ở đây, cả gia đình được sắp xếp đi định cư tại Hoa Kỳ.

Chỉ sau ít năm trên ngôi vị giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm một người Việt Nam, Đức Ông Vincent Trần Ngọc Thụ, làm thư ký riêng cho ngài. Ở cương vị nầy, đức ông Thụ giúp Đức Thánh Cha các công tác thường ngày, một sự gần gũi đặc biệt, và theo lời đức ông khi sinh tiền đã thuật lại, "việc bổ nhiệm nầy là để ngài nhớ đến đất nước Việt Nam".

Ngày 22/6/1987, Đức Gioan Phaolô II đã châu phê nghị quyết phong thánh các chân phước tử đạo Việt Nam. Và một năm sau, ngày 19/6/1988, trước sự hiện diện đông đảo các tín hữu khắp năm châu, gồm cả khoảng 10 ngàn người Việt, ngài đã chủ tọa đại lễ long trọng tôn phong 117 anh hùng tử đạo lên hàng hiển thánh. Đây là một biến cố quan trọng vô tiền khoáng hậu cho Việt Nam, làm nức lòng các tín hữu, nhất là những người đang ở trong lòng Giáo Hội thầm lặng bị bức hại cấm cách sau bức màn tre cọng sản. Nhà nước Việt Nam cực lực phản kháng, cấm việc cử hành trong nước và khước từ cấp chiếu khán cho bất kỳ một giám mục nào qua Rôma dự lễ.

Trong bài giảng thuyết đại lễ phong thánh, sau khi mở lời chào Giáo Hội Việt Nam, "mặc dầu trùng dương cách biệt nhưng rất gần gũi trong tình thân ái của tôi" ngài ngỏ lời cùng dân tộc Việt Nam, "Dịp nầy, tôi xin gửi lời chào thân ái tới toàn thể dân tộc Việt Nam và nói lên rằng: cả Giáo Hội hoàn vũ hết lòng cầu chúc cho dân tộc quý quốc được trăm phần an lành..."

Là người đến từ quốc gia cọng sản, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II am hiểu sự hà khắc của thể chế độc tài và đặc biệt quan tâm tình trạng ngược đãi các tín hữu và mục tử. Trong nhiều lần, ngài công khai lên tiếng yêu cầu Việt Nam tôn trọng nhân quyền và phản đối sự bức bách của nhà nước đối với các giám mục, linh mục và tín hữu. Ngoài các vận động hậu trường, ngài đã không ngần ngại công khai nhắc đến trường hợp các Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Kim Điền bị tù đày chèn ép và yêu cầu nhà nước trả tự do cho họ.

Chính khi Đức Tổng Thuận bị tống xuất khỏi Việt Nam, Đức Gioan Phaolô II đã mở rộng vòng tay đón tiếp và cắt cử vị giám mục cựu tù làm việc trong giáo triều Rôma. Ngài bổ nhiệm Đức Tổng Thuận vào một công việc hết sức ý nghĩa là đảm đương một bộ của Giáo Triều Vatican: Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình. Ở cương vị nầy và với những chứng từ cá nhân hùng hồn, Đức Tổng Thuận đã nhiệt tình hoạt động, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người để cổ võ hòa bình và công lý cho toàn thế giới.

Vào ngày 15/12/1999 Đức Gioan Phaolô II đã làm Đức Tổng Thuận bối rối và ngạc nhiên khi ngài nói, "Năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba, một người Việt Nam sẽ giảng tuần tĩnh tâm cho giáo triều Rôma." Và ngài tiếp, "Đức Cha đã chọn đề tài nào chưa?" Kết quả là, qua biến cố giảng phòng lịch sử, các mẩu chuyện cuộc sống tù đày của Đức Tổng Thuận đã được loan truyền khắp thế giới. Hai mươi hai bài tĩnh tâm cho Giáo Triều Rôma về sau được in lại trong tập sách "Chứng Nhân Hy Vọng" và đã phiên dịch ra nhiều thứ tiếng.

Ngày Đức Tổng Thuận được tấn phong Hồng Y, trong khi bước lên để nhận mũ và nhẫn Hồng Y, Đức Thánh Cha đã hai lần thốt lên, "Việt Nam!" "Việt Nam!", một cử chỉ ưu ái đối với dân Việt mà khi sinh tiền Đức Hồng Y Thuận đã nhiều lần nhắc lại. Trong thánh lễ an táng trước linh cửu Đức Hồng Y Thuận tại Vatican, Đức Giáo Hoàng đã hiện diện để bày tỏ tình hiệp thông sâu xa với Giáo Hội Việt Nam và phân ưu với dân tộc Việt Nam. Ngài nói, "Tôi nghĩ đến Giáo Hội Việt Nam yêu quí, nơi Đức Hồng Y đã sinh ra trong đức tin, và tôi cũng nghĩ đến toàn thể dân tộc Việt Nam, mà Đức Hồng Y đáng kính đã công khai nhắc đến trong chúc thư thiêng liêng và khẳng định tấm lòng luôn luôn yêu mến".

Là một con người nhạy cảm, Đức Gioan Phaolô đã luôn tận dụng mọi cơ hội để bày tỏ tình liên đới và tình thương của ngài với dân Việt khi gặp cảnh thiên tai hoặc qua các biến cố. Trong dịp tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 1993 tại Denver, Colorado, ngài đã dành cho trên 10 ngàn tín hữu Việt Nam tại Hoa Kỳ một cuộc tiếp xúc riêng tại sân vận động trường thành phố. Ngài thành lập Văn Phòng Phối Kết Tông Đồ Việt Nam Hải Ngoại tại Rôma để đặc biệt chăm sóc đời sống đức tin và mục vụ cho các tín hữu Việt Nam hải ngoại, một cơ chế được thấy hiếm hoi nơi các sắc dân khác. Ngài bổ nhiệm một giám mục gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ là Đức Cha Mai Thanh Lương, và một Tổng Giám Mục người Việt phục vụ trong ngành ngoại giao với cấp bậc sứ thần, là Đức Tổng Nguyễn Văn Tốt.

Trong khi am hiểu sâu xa vô vàn khó khăn các vị mục tử phải gánh chịu trong một quốc gia độc tài đàn áp, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã không ngần ngại thúc giục các giám mục can đảm nêu gương chứng nhân đức tin, và ra sức hoạt động đối thoại để mang lại các thay đổi tích cực cho xã hội. Nhân chuyến Ad Limena viếng thăm Mộ Các Thánh Tông Đồ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tại Giáo Đô La Mã vào đầu năm 2002, ngài đã tán thành việc lên tiếng đòi hỏi nhân quyền và cám ơn "sự kiên vững và chứng từ can đảm" của các giám mục Việt Nam. Vừa căn dặn các giám mục, "sứ mạng truyền giáo phải luôn luôn hướng dẫn những chọn lựa căn bản mà anh em cần thực hiện... và không ngừng đối thoại", ngài vừa kêu gọi mọi người dân Việt, không phân biệt tôn giáo, "dấn thân một cách trung thực để làm tăng trưởng con người và xây dựng một xã hội công bằng, liên đới, và chân thật" cũng như kêu gọi nhà nước "hoàn toàn tôn trọng sự độc lập và tự chủ của Giáo Hội".

Một cử chỉ ưu ái bất ngờ cho Giáo Hội Việt Nam là Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn được nâng lên thành Tòa Hồng Y, một vinh dự đầy ngạc nhiên vì so với các quốc gia khác như Phi Luật Tân, hoặc Đại Hàn, Việt Nam thua kém về số tín hữu hoặc tỷ lệ. Chính Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, trước sự bổ nhiệm nầy, trong một trả lời báo chí đã cho biết, ngài "như trên trời rơi xuống" vì quá bất ngờ. Quyết định nầy làm cho người ta hiểu rằng Đức Thánh Cha mong muốn vị lãnh đạo Công Giáo tại thành phố trù phú và đông dân cư nhất Việt Nam nầy có một uy thế đặc biệt để đối tác với nhà cầm quyền và tiếng nói trọng lượng hơn đối với quần chúng trong cũng như ngoài nước.

Hai tháng trước khi ngài tạ thế, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã vinh thăng Đức Cha Ngô Quang Kiệt, một giám mục trẻ vừa ngoài 50 tuổi, làm Tổng Giám Mục Thủ Đô Hà Nội, và bổ nhiệm một tân giám mục phụ tá cho Tổng Giáo Phận Huế. Trong vài ngày cuối đời, ngài còn có một cử chỉ cho Giáo Hội Việt Nam là chấp nhận đơn từ chức vì lý do tuổi tác của Đức Cha Huỳnh Văn Nghi và bổ nhiệm Đức Cha Nguyễn Thanh Hoan làm giám mục chính tòa Giáo Phận Phan Thiết. Chắc hẳn khi châu phê các sắc lệnh bổ nhiệm nầy, hai tiếng Việt Nam đã được ngài nhắc đến như là niềm tưởng nhớ ưu ái trước khi giã từ trần thế.

Là người Việt Nam, cùng với các tín hữu khắp nơi trên thế giới, trước hồng phúc vinh thăng hiển thánh của vị giáo hoàng rất mực khả kính, thánh thiện, chúng ta không khỏi cảm xúc vui mừng. Ngài lìa khỏi thế gian, nhưng gương sáng của ngài vẫn ở lại. Là con người đức tin, chúng ta tin rằng ngài đã được một nơi cư ngụ vĩnh viễn trên trời, làm người bầu cử cho nhân loại, cho dân tộc Ba Lan và Việt Nam mà ngài hằng luôn yêu mến.

Lúc sinh tiền, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ao ước nhưng chưa được thực hiện chuyến viếng thăm Việt Nam, "một đất nước cao quý và kiên cường"; nhưng ý Chúa nhiệm mầu, vì qua trở lực của khó khăn con người, ngài đã đền bù cho dân tộc Việt Nam nhiều cử chỉ hết sức ưu ái. Chúng ta cám ơn Chúa vì đã ban cho Giáo Hội Người một chứng nhân Tin Mừng thánh thiện, tuyệt vời, và cho thế giới một vĩ nhân cao cả.-
Diễn nguyện Chúa chịu chết tại giáo xứ Tân Đông, GP Sàigòn
Minh Thiên20/04/2014
Phục Sinh 2014 tại giáo xứ Tam Biên - Mừng Vui Lên
Phạm văn Ry20/04/2014
Phục Sinh 2014 - Mừng Vui Lên

Mừng vui lên (Exsultet), hỡi muôn lớp cơ binh Thiên Thần trên trời.......

Đúng thế, chúng ta phải vui lên vì Thiên Chúa đã sống lại, Ngài đã đem lại niềm vui cho trần thế vì từ nay bóng tối của tội lỗi, bóng tối của sự dữ, bóng tối của xiềng xích sự chết sẽ không còn chế ngự được con người nữa mà là ánh sáng của Phục Sinh, ánh sáng của tình yêu, ánh sáng của chiến thắng sẽ thống trị toàn cầu, thống trị thế giới.

“Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì Đức Tin của chúng ta sẽ ra huyền ảo vô ích, và chúng ta vẫn còn trong tội lỗi” (1 Cor 15, 17).

Cùng với Giáo Hội mừng ngày Chúa Khải Hoàn trong Vinh Quang, cộng đoàn Tam Biên, giáo phận Orange, California hân hoan đón nhận hơn 10 anh chị em tân tòng. Họ là những người đã can đảm dám theo Chúa, dám lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội và Thêm sức. Họ đã không sợ để được gia nhập vào chi thể của Giáo Hội Công Giáo. Họ đã không sợ để sẵn sàng đem tin mừng ơn cứu rỗi và sự Phục Sinh đến với những bạn bè, anh em trong nơi làm việc và nhất là trong đời sống gia đình mà Bố Mẹ hoặc thân nhân vẫn còn chưa nhận biết Chúa.

Trong đêm màu nhiệm Chúa Phục Sinh hôm nay, ba chữ "Mừng Vui Lên", được lập lại nhiều lần để nhắc nhở chúng ta về Tình Yêu con người mà Thiên Chúa đã sai con một của Ngài xuống để cứu chuộc nhân loại, và để giao hòa giữa con người với Thiên Chúa vì tội lỗi của Tổ Tông mà chúng ta phải gánh chịu.

"Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không còn ở đây vì người đã sống lại "(Mt 28, 5-6). “Các bà đừng sợ”, chúng ta cũng đừng sợ, vì Đức Kitô đã sống lại thật, màu nhiệm tin mừng này đã làm cho các phụ nữ theo Chúa Giêsu trong cuộc hành trình lên đồi Calvario ngày xưa rất vui mừng nhưng không khỏi hoang mang, lo lắng và sợ hãi khi các chị được Thiên Thần loan báo: " “Chúa Giêsu không có ở đây, Ngài đã chỗi dậy như Ngài đã nói”

Màu nhiệm Phục Sinh của đêm nay có lẽ sẽ thức tỉnh làm sống lại con người đang ngủ mê trong tội lỗi, trong sự hận thù giữa con người với con người, trong những dằn vặt bất công nơi xã hội, trong những bất hòa giữa vợ chồng và con cái. Chúa đã sống lại từ cõi chết, mỗi người chúng ta cũng phải sống lại từ cõi chết tức là phải thoát ra ngoài cái ích kỷ tự ái cá nhân, để tin mừng Chúa Kitô Phục Sinh sẽ luôn sống mãi trong tâm hồn của chúng ta.

Các anh chị em tân tòng đã can đảm theo Chúa, chúng ta cũng phải can đảm giữ vững niềm tin và làm chứng nhân cho Chúa. Hãy can đảm và đừng sợ để loan báo tin mừng Chúa Phục Sinh. Đó là Đức Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết, là tột đỉnh của nền tảng màu nhiệm đức tin trong đời sống của một Kitô hữu.

Kính chúc quí vị một mùa Phục Sinh thánh thiện và bình an.

Phạm văn Ry

Thứ Bảy Vọng Phục Sinh

19-4-2014
Thánh lễ Phục Sinh tại nhà thờ Phủ Cam Huế
Trương Trí20/04/2014
HUẾ - Thánh lễ Vọng Phục sinh tại Nhà thờ Chính toà Phủ Cam Huế do Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, Nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế chủ tế, cùng đồng tế có Cha J.B. Etcharren, nguyên Bề trên Tổng quyền Hội Thừa sai Paris, Cha Tổng Đại diện Antôn Dương Quỳnh, quý cha Phó xứ Chính toà Phủ Cam.

Hình ảnh

Vào lúc 20giờ30, Nghi thức Phục sinh trước Tiền đường Nhà thờ, nến Phục sinh được thắp sáng lên, từ lửa phục sinh, cộng đoàn thắp sángnến trên tay và rước nến phục sinh vào Nhà thờ. Ánh sáng Chúa Kitô soi chiếu cho trần gian, Ngài đến để đem ánh sáng chân lý, đem lửa tình yêu sưởi ấm cho loài người.

Trước khi công bố Tin mừng Phục sinh, Đức Tổng Giám mục chủ tế mời gọi cộng đoàn hãy nhìn xem và lắng nghe công trình cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho nhân loại như thế nào qua các bài Tin mừng.

Bước vào phần Canh thức Vượt qua, Phụng vụ lời Chúa cho mọi người cảm nhận được tình yêu bao la của Thiên Chúa, Ngài đã cuuw mang loài người dù cho loài người phản bội Thiên Chúa: bài đọc 1 cho thấy Thiên Chúa thử thách lòng trung tín của Tổ Phụ Abraham, Ngài bảo Abraham đem con trai của mình là Isaac để hiến tế cho Thiên Chúa, nhưng khi Abraham trói Isaac và đinh hiến tế thì Ngài xuất hiện và bảo rằng đã thấy được sự trung tín của Abraham, đồng thời Ngài bảo ông hãy bắt con chiên trong bụi gai để hiến tế thay cho con mình. Bài đọc 2 cho chúng ta thấy Thiên Chúa yêu thương dân Ngài. Khi Môisê dẫn dân Israel trốn khỏi Ai Cập, chiến xa và kỵ binh của Ai Cập đuổi theo, đến bờ Biển Đỏ là nơi cùng đường, Thiên Chúa đã sai Môisê đưa tay chỉ lên biển, tức thì nước biển rẽ ra làm thành 2 bức tường hai bên. Dân Israel bước qua giữa lòng biển khô cạn, khi chiến xa và kỵ binh của Ai Cập đuổi theo, Môisê đưa tay chỉ lên biển, tức thì nước biển ập lại vùi dập chiến xa và kỵ binh của Ai Cập giữa lòng biển khơi. Bài đọc 3 lại cho chúng ta thấy tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, mặc dù dân Irael phản bội Người, xúc phạm đến Danh Thánh của Người. Thiên Chúa đã dùng nước tẩy rửa mọi tội lỗi và còn ban cho họ một tâm hồn mới, một trái tim mới để họ tuân giữ và thực hành các lề luật của Thiên Chúa. Ngài tỏ cho nhân loại biết họ là dân riêng của Chúa và Thiên Chúa là Chúa của họ.

Trong bài giảng lễ, Đức Tổng Giám mục chia sẻ: Ánh sáng Phục sinh là ánh sáng chiếu soi giữa bóng tối. Bên cây nến Phục sinh, chúng ta ca ngợi ánh sáng Phục sinh là ánh sáng cứu độ, mỗi người chúng ta bày tỏ hết tâm can của mình với lòng tin tưởng cậy trông vào Thiên Chúa. Chúng ta mắc tội nguyên tổ, nhưng chính vì tội nguyên tổ mà loài người chúng ta được Thiên Chúa sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến với chúng ta. Khi Chúa Giêsu từ trong cõi chết sống lại, các bà tìm ra thăm mộ Ngài thì gặp Chúa Giêsu xuất hiện, Ngài bảo các bà hãy về báo tin cho anh em biết Ngài đã sống lại thật. Chúa Giêsu Phục sinh là để mang Tin Mừng cứu độ đến cho loài người.

Phần Phụng vụ thánh tẩy, Đức Tổng Giám mục đã ban phép Thánh tẩy và thêm sức cho những anh chị em đã trải qua một thời gian dài học hỏi giáo lý để nhận biết sâu sắc về đức tin. Đức Tổng Giám mục làm phép nước và rửa sạch tội nguyên tổ và những vết nhơ tội lỗi mà anh chị em tân tong đã mắc phải. Ngài trao áo trắng và nến sáng biểu trưng cho sự trong sạch và ánh sáng của Chúa Kitô để Đức tin luôn toả sáng.

Trong phần dâng Lễ vật, các anh chị em tân tòng lần đầu tiên được vinh dự cùng với Giáo xứ dâng lễ vật lên Thiên Chúa. Các anh chị cũng vinh dự được Đức Tổng Giám mục cho rước Mình và Máu Thánh Chúa.

Sau Thánh lễ, Đức Tổng Giám mục trao tặng mỗi tân tong một món quà kỷ niệm ngày gia nhập Hội Thánh Chúa.

Cha Tổng Đại diện Antôn Dương Quỳnh nói lời cảm tạ Đức Tổng Giám mục Stêphanô, dù sức khoẻ già yếu nhưng Ngài vẫn yêu thương Giáo xứ Chính toà, đến dâng Thánh lễ Vọng Phục sinh hôm nay. Giáo xứ luôn tỏ lòng tri ân Đức Tổng vì những gì Ngài đã làm cho giáo xứ. Nhờ có Ngài mà ngôi Nhà thờ mới được haonf thiện nưh ngày hôm nay.

Ông Matthêô Nguyễn Đình Lục, Chủ tịch HĐGX thay mặt cộng đoàn nói lời tri ân Đức Tổng Stêphanô, Ngài luôn quan tâm đến Giáo xứ Chính toa này, ngôi nàh Mục vụ chuẩn bị hoàn thành cũng nhờ Ngài đặt viên đá khởi công xây dựng mới được mau chóng hoàn thành, giáo xứ trao tặng Ngài bó hoa tươi thắm bày tỏ lòng kính yêu của giáo xứ đối với Ngài, cộng đoàn vỗ tay chúc tụng Ngài nồng nhiệt.

Sau cùng, Đức Tổng Giám mục Stêphanô chúc cộng đoàn giáo xứ, những người có mặt cũng như vắng mặt, một mùa Phục sinh an bình trong Chúa. Ngài cũng chúc mừng anh chị em tân tong đã được lãnh nhận ơn Thánh Chúa, Ngài chúc anh chị em tân tong luôn biết nuôi dưỡng Đức Tin.

Cộng đoàn lãnh nhận phép lành của Đức Tổng Giám mục và ra về trong niềm hân hoan vui mừng phục sinh, mọi người chúc nhau một ngày lễ vui tươi, một mùa Phục sinh thánh thiện.
Chúa đã sống lại thật
Nguyễn Đức Vượng20/04/2014
Ngày 19/4/2014: Giáo xứ Đức Mẹ La Vang, tổng Giáo Phận Galveston Houston, TX

ALLÊLUIA. ALLÊLUIA! CHÚA SỐNG LẠI THẬT, NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN

Với Giáo xứ Đức Mẹ La Vang thuộc tổng Giáo Phận Galveston Houston năm nay, Giáo Hội Hoàn Vũ vui mừng, Giáo xứ vui mừng và mọi người vui mừng vì được nhận đón 10 anh chị em tân tòng.

Vào một buổi tĩnh tâm cuối cùng cũng là buổi kiểm lại những gì đã được cô Hương dậy dỗ trong năm vừa qua. Cha giảng phòng hỏi mấy câu hỏi hôm nay thật khó trả lời đó nghe!

1. Anh chị em thân mến tại sao chúng ta không gọi Chúa Giêsu sống lại ngày Sabat của tuần mà lại gọi là Chúa Giêsu sống lại trong ngày thứ nhất trong tuần. 10 học viên cùng những người đỡ đầu, sau khi suy nghĩ một hồi, mặt mọi người càng lúc càng căng thẳng trong thinh lặng. Có một anh học viên giơ tay lên nói rằng vì Chúa Giêsu là người đầu tiên từ cõi chết sống lại nên goị là ngày Chúa Giêsu sống lại trong ngày thứ nhất trong tuần. Cha nói chưa đúng. Có người khác đáp ngay, theo con thì ngày Chúa Giêsu sống lại là ngày thứ nhất trong tuần vì đó là ngày Sabat của người Do Thái được đổi lại là ngày thứ nhất trong tuần. Cha giảng phòng nói vẫn chưa đúng. Mọi người thật vui mừng và cùng vỗ một tràng pháo tay khi cha giảng phòng ra hiệu là chính xác. Vì có một người học viên khác trả lời: Vì Chúa Giêsu sống lại trong ngày thứ nhất đầu tuần nay chúng ta gọi là ngày Chúa Nhật rồi đến thứ hai, thứ ba thứ tư… Câu trả lời này đúng nhất.

Chúa Giêsu không sống lại vào ngày Sabat của người Do Thái là ngày nghỉ, đó là ngày thứ bảy bây giờ. Trong Kinh thánh rõ ràng Chúa nói: Ta sẽ chết trong 3 ngày, Ta sẽ sống lại” Như thế, Chúa chết vào thứ sáu thì vào ngày thứ nhất trong tuần mà ngày hôm nay chúng ta vẫn gọi là ngày Chúa Nhật,” Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Madalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ…” (Ga 2,1-9), thế là mọi người vui mừng vì đã có được câu giải đáp thỏa đáng.

Vâng, Chúa đã sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần và hiện ra với Bà Maria… Ông Phêrô, Gioan…và còn nhiều lần nữa với việc hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần mà toàn thể thế giới hôm nay dùng ngày thứ nhất trong tuần để nghỉ ngơi, còn đối với những ai tin vào Chúa thì đến với Thánh Đường thờ phượng, cảm tạ Chúa vì Chúa sống lại để cứu chuộc chúng ta và cho chúng ta được hợp đoàn thành dân thánh Chúa.

2. Câu hỏi thứ hai tại sao Chúa không sống lại trong ngày Sabat mà sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần hay còn gọi là ngày Chúa Nhật? Nếu Chúa Chúa sống lại vào ngày Sabat thì có gì khác với truyền thống ngày nghỉ của người Do Thái. Như thế người ta đâu có thấy sự khác biệt giữa ngày lễ của người Do Thái và ngày Chúa Sống lại. Có một điều người Do Thái vẫn làm mà Chúa cũng làm nhưng người ta không hiểu. Đó là Ngài và họ cùng có ngày tam nhật Vượt Qua. Do vậy, ngày thứ nhất trong tuần tính ra từ trong sách Sáng Thế là ngày Thiên Chúa đã bắt đầu công trình sáng tạo, nghĩa là ngày đầu tuần của Thiên Chúa mà người Do Thái đón nhận như một luật buộc phải làm việc. Phải chăng vô hình chung mà tam nhật Vượt Qua của người Do Thái với Ngày Đầu Tuần đã làm nên một sự kiện hiển hách’ Chúa đã sống lại”. Chúa đã sống lại ngày thứ nhất trong tuần để ngày hôm nay toàn thể thế giới đều nghỉ đó là ngày Chúa Nhật ( vì là ngày của Chúa) hay Chúa Nhật (vì là ngày chúng ta làm chủ để nghi ngơi). Nói chung, chúng ta có ngày nghỉ trải qua 21 thế kỷ cho toàn thể thế giới đó là ngày Chúa Giêsu sống lại mà người ta vãn thường gọi là ngày thứ nhất trong tuần.

3. Tại sao Chúa Giêsu lại chết cho chúng ta? Nếu chúng ta lần giở lại Kinh Thánh trong sách Sáng Thế thì bởi vì Ông Adong và Bà Evà đã không vâng lời Thiên Chúa, đã vâng nghe ma quỷ và ăn trái cấm giữa vườn nên bị Chúa phạt. Chính hai ông bà đã đón nhận một sự xa lìa bởi tội và từ đó tội lỗi nhập vào thế gian và tội lỗi lại lây lan đến chúng ta, nên Chúa phải chết và có sự sống lại, để cho chúng ta cũng chết với Chúa để loại trừ tội lỗi trong ta.

Vâng, Thiên Chúa đã cho con người một món quà tuyệt đối là tự do, nhưng con người đã dùng quyền tự do này để phạm tội và tội đã không chỉ làm cho người đó bị chết mà còn mang hậu quả của sự chết cho toàn thể nhân loại chúng ta. Chỉ cần một tội như tôi nói dối người thân, tôi nói tôi đi nhà thờ thế mà tôi đi với bạn tôi, tới một nơi để chơi bài, người thân nghe được như vậy thì người thân tôi sẽ đau khổ như thế nào : Vì không làm đúng lời đã nói, mất niềm tin nơi ngưởi thân và gây đau khổ cho chính mình vì lương tâm cứ bị cắn rứt, sao tôi lại làm thế? Sức mạnh của tội làm tôi còn lún sâu hơn nữa, vì người thân không còn tin tôi. Thì từ nay giữa người thân với tôi sẽ nghĩ gì và nói gì khi đã mất tin tưởng nhau và cuối cùng tôi và người thân sẽ xa lìa nhau.

Anh Chị Em Tân Tòng đêm nay, đã nhận ra việc Chúa Giêsu không phải chỉ chết trong mồ ba ngày rồi chỗi dậy vào ngày thứ ba đó, được gọi là ngày thứ nhất trong tuần. Nhưng từ đây còn khám phá ra tội đã làm cho con người lạc bước, gây chia rẽ, hận thù và con người không muốn nhìn nhau. Qua bí tích Rửa Tội, anh chị em dám dân thân theo Chúa Kitô để được cởi bỏ hoàn toàn tội lỗi và tháp nhập cùng dâng hiến tội lỗi mình cho Chúa. Tội lỗi được đóng tội vào thập giá và Chúa Giêsu cất nhắc cùng đem đi qua cái chết của Ngài, cùng cho chúng ta sống lại và trở thành anh chị em với nhau ngay ở đời này.

Cũng vậy, là người đã được chịu phép thanh tẩy, Chúa còn cho một Bí Tích quan trọng khác nữa đó là Bí Tích Hòa Giải hay Giao Hòa. Trong tuần qua, Giáo Xứ chúng ta đã được các buổi tối quý cha, từ năm cha cho đến 10 cha đã đến để cho hàng trăm trăm người được giao hòa với Chúa và về với nhau. Quý ban phụng vụ đã ra công sắp xếp phòng ốc tòa giải tội, những người xướng kinh chuẩn bị cho việc ngắm nguyện năm nay thật tươm tất. Thế nên, sự tham dự của đông đảo tín hữu vây quanh thập giá, đứng trước thập giá và nhà tạm trong nguyện đường đã dâng lên Chúa những cung ngắm ba miền thật sốt sắng và cảm động. Những tiếng chiêng, trống nổi lên vào những khi đọc, ngắm đến tên Giêsu. Tiếp đến, đoàn dâng hạt năm nay, hội các Bà Mẹ đã dầy công tập luyện để ca vãn giữa các ngắm và kết thức mười lăm ngắm thật xúc tích và đầy cảm kích, còn bao nhiêu những đóng góp tắt đèn đóng cổng của những người lao công trong đêm tối phủ xuống. Nhưng tất cả mọi trái tim được bừng lên sức sống của Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Ban Giáo Dục đã thực hiện một cuộc thương khó dính liền với những cành lá thật cảm động, rồi với hai Đoàn Tông Đồ trẻ là các bạn TA trong ban Giáo Dục đã được chuẩn bị kỹ lưỡng tay cầm cành lá và gậy tiến vào Giêrusalem để dám chết với Thầy, thì đại diện các Chi Tộc, năm nay cũng sẵn sàng theo bước cha anh là những vị tử đạo tay cầm cành vạn tuế cùng gậy của khử trừ rắn rết, bọ cạp mà tiến lên cùng Đức Kitô, Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta.

Cùng qua một tam nhật thánh với sự đóng góp vừa kiên nhẫn vừa mất nhiều thời giờ của Hội Đồng Mục Vụ, các Ban Ngành Đoàn thể Công Giáo Tiến Hành thực hiện một cuộc thương khó, táng xác Chúa để chúng ta cùng thông công sự đau khổ với Ngài. Từ bên ngoài bao người đang cùng nhau chuẩn bị cho Đại Hội Thánh Mẫu, trồng cây, đóng bục hát, in ấn, sơn phết tạo nên một sức sống trong phục sinh của Chúa Kitô hầu mọi người cùng vang lên khúc khải hoàn ca ALLÊLUIA, ALLELUIA.

Ước mong chính Chúa luôn là ngày THỨ NHẤT TRONG TÂM HỒN MỌI NGƯỜI ĐỂ CHÚNG TA ĐƯỢC SỐNG LẠI TỪNG GIÂY TỪNG PHÚT VỚI NGÀI”

Kính chúc quý thành viên hội đồng mục vụ, quý thành viên hội đồng tài chánh, quý ban ngành đoàn thể Công Giáo tiến hành, quý gia tộc, quý ca đoàn và toàn thể quý vị cùng góp công sức, thời gian và tài chánh; cùng hiện diện để chúng ta có một Mùa Phục SInh thật thánh thiện và đầy tình thương của Chúa. Xin trin ân triệu triệu lần đến với quý cha, quý thầy sáu, quý tu sĩ nam nữ, quý cụ quý ông bà và anh chị em.

Chúc mừng phục sinh và đồng tri ân

Hình ảnh lễ Vọng Phục Sinh do Joseph Ký Nguyễn thực hiện: https://www.flickr.com/photos/23686708@N05/sets/72157644168124744/
Giáo xứ Văn Hạnh: Bữa Cơm Huynh Đệ
Văn Hạnh20/04/2014
Giáo xứ Văn Hạnh, Bữa Cơn Huynh Đệ

Sáng thứ 5 Tuần Thánh, ngày 17 tháng 4 năm 2014, Ban Tình Thương cùng Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ đã tổ chức bữa cơm huynh đệ cho những người có hoàn cảnh đặc biệt: người già cả neo đơn, người tàn tật…, trong toàn xứ.

Xem Hình

Mặc dù bận rộn với nhiều công việc trong tuần thánh, nhưng Ban tổ chức muốn tổ chức bữa cơm trong ngày này như muốn cụ thể hóa và làm nổi bật ý nghĩa của thánh lễ Tiệc Ly vào buổi chiều cùng ngày. Bởi trong thánh lễ này, Chúa Giêsu đã thực hiện hành động phục vụ khi quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ và hiến tế chính mình làm Bánh bẻ ra để trao ban cho muôn người.

Cũng vậy, trong bữa cơm thân mật này, Ban tổ chức đã trực tiếp dẫn các vị khác được mời vào bàn tiệc, giúp đỡ họ ăn, vì có người không nhìn thấy nên không thể tự lấy thức ăn được, có người phải ngồi xe lăn nên khó khăn trong khi ngồi vào bàn, có người bị tai biến nên tay chân run rẩy…

Phát biểu trước giờ cơm, cha quản xứ Phêrô Trần Phúc Chính đã đơn thành ngỏ lời, Tôi xin thay mặt cho toàn giáo xứ, cám ơn quy vị đã đáp lại lời mời của Ban tổ chức để đếm đây trong bữa cơm đạm bạc này. Quý vị đã chịu nhiều thệt thòi trong cuộc sống, chính quý vị đã góp của lễ hy sinh của bản thân cùng với của lễ của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, của lễ của quý vị đã được Chúa nhận lời, vì vậy Chúa đã gìn giữ giáo xứ được lớn mạnh qua mọi biến cố của lịch sử. Cũng trong buổi sáng đó, ngài đã ban Bí tích Hòa giải và Bí tích Xức dầu cho 50 người trong tổng số 66 người được mời.

Bữa cơm không có gì cao lương mỹ vị, tuy nhiên đã làm no thỏa thực khách, bởi tình Chúa và tình người được hòa quyện vào nhau. Ban tổ chức phấn khởi vui mừng vì được thực hiện nghĩa cử yêu thương; khách mời được ấm lòng vì nhận được sự quan tâm, được động viên khích lệ, xóa đi nỗi cô đơn, dịu đi những đau đớn vì bệnh tật, gạt qua những mặc cảm vì khiếm khuyết thân thể.

Cuối bữa cơm, một cụ bà tuổi đã ngoài thất thập không nén được cảm xúc, đã rưng rưng nước mắt chia sẻ, cám ơn cha, cám ơn các ông, con…sung sướng quá…!

Được biết, đây là lần đầu tiên Ban Tình Thương và Hội Đồng Mục Vụ xứ tổ chức bữa cơm huynh đệ cho những người có hoàn cảnh đặc biệt vào ngày thứ 5 Tuần Thánh như thế này. Ước mong của Ban tổ chức là trong tương lai có thể tổ chức quy mô hơn, khách mời không chỉ giới hạn trong xứ mà có thể là toàn hạt và đặc biệt là những bà con lương dân sống lân cận.

Văn Hạnh
Phụng Vụ - Mục Vụ
Phiền Muộn, Bối Rối, & Bình An
Nguyễn Trung Tây, SVD20/04/2014
□ Nguyễn Trung Tây, SVD
Phiền Muộn, Bối Rối, & Bình An


...Ngày hôm nay người ta xây được những căn nhà cao hơn, phòng ốc rộng hơn, sân vườn xanh cỏ hơn, nhưng tâm hồn của nhân loại bắt đầu co cụm nhỏ dần héo úa tàn khô...


Ngoài thất vọng, tuần Thánh và tuần Phục Sinh đầu tiên của dòng lịch sử ơn cứu rỗi cũng là hai tuần lễ đong đầy những phiền muộn, bối rối, và lo lắng không lối thoát cho những người môn đệ của Đức Giêsu.

Bắt đầu từ những giây phút bỏ chạy trong Vườn Cây Dầu cho tới giây phút chứng kiến cảnh tảng đá đang lăn tròn che kín ngôi mộ, những người Kitô hữu đầu tiên đã trải qua hết thất vọng này sang thất vọng khác. Thoạt tiên là chuyện Giuđa bán đứng đại sư phụ với một cái hôn, nối tiếp là bản án tử của Đức Giêsu được đóng dấu bởi nhà nước bảo hộ La Mã, theo sau là nhọc nhằn con đường thập giá với đá và sỏi dẫn lên Núi Sọ, tiếp nối là kinh hoàng tiếng đinh xé rách thân xác và sắc nhọn tiếng búa lạc thần đôi mắt của Đức Giêsu. Trong thất vọng, cuối cùng mọi người dẫn nhau ra về sau khi tảng đá đóng lại che kín xác Đức Giêsu.

Nhưng rất tiếc, đúng như cụ Tiên Điền đã từng nói, “đùng đùng gió giục mây vần,” câu chuyện thất vọng không chịu dừng lại ở chỗ tảng đá được lăn tới chôn lấp một xác chết, nhưng được tiếp nối với một bản tin động trời do những người đàn bà hốt hoảng chạy về thông báo vào sáng sớm thứ Hai của ngày đầu tiên trong tuần lễ. Theo như những người nữ môn đệ, xác Đức Giêsu đã không còn nằm trong ngôi mộ đá nữa. Mà nếu xác Đức Giêsu đã biến mất, không còn trong ngôi mộ, không ai trên cõi đời vào đầu thiên niên kỷ lại dùng niềm tin Phục Sinh để giải thích cho hiện tượng ngôi mộ trống; nhưng, người người từ những em bé cho tới những cụ già, từ những nhà lãnh đạo tôn giáo cho tới chính quyền bảo hộ La Mã đều tin rằng có người đã lẻn vào ngôi mộ đánh cắp mang xác Đức Giêsu đi dấu cho một âm mưu đen tối (Gioan 20:2). Bởi thế, khi bản tin xác Đức Giêsu đã biến mất, nhà nước bảo hộ La Mã không chịu nhắm mắt bỏ qua, nhưng sẽ bắt đầu một cuộc tảo thanh, lùng kiếm xác của Ngài trên từng góc phố và trong từng căn nhà của kinh thành Giêrusalem. Khi cuộc săn lùng thi thể của Đức Giêsu bắt đầu, những người nam môn đệ sẽ là những nhân vật đầu tiên nằm trong danh sách bị truy nã, bị săn lùng, và bị tra khảo. Cho nên, không ai lạ chi nếu những cánh cửa của căn nhà nơi những người môn đệ đang ẩn sâu trốn kỹ bắt đầu từ đêm khuya của ngày thứ Năm tuần trước lại càng thêm cửa đóng then cài vào ngày thứ Hai đầu tuần của người Do Thái. Bởi thế, khi nhận được bản tin là xác Đức Giêsu đã biến mất, những người môn đệ của Đức Giêsu đã không đứng dậy hân hoan nhảy múa hét to, “Tạ ơn Chúa! Allelujah! Ngài đã sống lại!”, nhưng mà là ngược lại. Cho nên, vào ngày Phục Sinh đầu tiên, ngoài thất vọng, những người môn đệ lại có dịp nếm thêm mùi vị đắng cay của muộn phiền, bối rối, và hồi hộp chờ đợi giây phút cánh cửa căn nhà bật tung bởi xích xiềng, giáo mác và áo trận La Mã.

Cánh cửa rồi cũng mở ra, nhưng không phải bởi chính quyền La Mã, mà là hai người môn đệ nguyên gốc Emmau. Trong khi những người nam môn đệ của Đức Giêsu đang run sợ, tiếp tục giấu mình sâu hơn nữa vào trong bóng tối của căn phòng kín, hai người môn đệ vừa từ thị trấn Emmau quay về cung cấp một bản tin khác về thi hài của Đức Giêsu, lần này bản tin thật sự đã biến thành trái bom nổ tung và giựt đứt những sợi giây thần kinh căng cứng của những người môn đệ. Theo như hai người môn đệ của thị trấn Emmau, ngôi mộ đá đã trở thành ngôi mộ trống không phải bởi vì người ta cướp mất xác của Đức Giêsu cho những toan tính mờ ám, nhưng bởi vì Ngài đã phục sinh. Và chính Ngài đã hiện ra chuyện trò với họ trên suốt một quãng đường dài mười một cây số.

Trong căn phòng kín của gần hai ngàn năm về trước, bản tin về Đức Giêsu Phục Sinh đồng hành trên con đường Emmau không mang lại tiếng cười hân hoan tiếng hát tạ ơn Thiên Chúa, nhưng bản tin đã khiến cho những người môn đệ của Đức Giêsu lại thêm nặng trĩu đôi vai, hằn sâu vầng trán, thâm đen đôi mắt, bởi vì lo lắng và sợ hãi trước những tin đồn thiệt hư không biết đâu mà kiểm chứng. Vào giây phút hội ngộ giữa Emmau và Giêrusalem, ngoại trừ ông Cleopas và người môn đệ đồng hành, tâm hồn của người người trong căn phòng đóng kín cửa đều tiếp tục ngân vang khúc nhạc cung thứ nốt giáng (b) của những dòng nhạc chán nản, nghi ngờ, và hoang mang.

Không trách chi, khi Đức Giêsu với thể xác thần khí hiện ra, đứng giữa căn phòng đóng kín cửa, các người môn đệ của Đức Giêsu tin rằng họ đã thấy ma. Không biết có người nào té ra bất tỉnh hay không, nhưng nếu Đức Giêsu không chúc “Bình An cho các con” và trấn an họ bằng cách ngồi ăn cá nướng với những người môn đệ thân thương, có lẽ nhiều người đã bị máu cơ tim nhồi lên mà chết bởi biến cố Phục Sinh mà họ đang chứng kiến tận mắt trong căn phòng kín.



Suy Niệm

Bạn,

Trong ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, lời chúc bình an của Đức Kitô Phục Sinh vẫn là một điều mà bạn và tôi đang cần đến. Thế giới đã tiến vào thiên niên kỷ thứ ba với bao nhiêu tiện nghi vật chất phục vụ cho những nhu cầu cần thiết của con người. Nhưng những tiện nghi vật chất này cũng có khả năng biến thành một con dao hai lưỡi cắt đứt tay nhân loại khiến cho thế giới tiếp tục đói khát bình an.

Nhân loại ngày hôm nay đã chế được hỏa tiễn và phi thuyền bay cao lên không gian. Đồng hành với những bay cao và bay xa vào trong vũ trụ là những hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân có khả năng sát hại không biết bao nhiêu mạng người chỉ trong chớp mắt.

Ngày hôm nay người ta đã xây dựng được bao nhiêu đường xa lộ siêu tốc dẫn nối từ thành phố này sang phố thị khác, từ quốc gia này sang vương quốc kia, nhưng con đường ngăn ngắn nho nhỏ dẫn sang nhà hàng xóm cỏ hoang mọc dày che kín lối đi.

Ngày hôm nay người ta xây được những căn nhà cao hơn, phòng ốc rộng hơn, sân vườn xanh cỏ hơn, nhưng tâm hồn của nhân loại bắt đầu co cụm nhỏ dần héo úa tàn khô.

Nhân loại ngày hôm nay bay vào trời xanh thường xuyên hơn, nhiều hơn, nhưng yêu thương ít hơn, bù lại cỏ dại của toan tính, hiềm khích, và chỉ trích tiếp tục lún phún mọc cao trong từng mảnh tâm hồn.

Ngày hôm nay nhân loại có nhiều tiền bạc mua sắm nhiều hơn, nhưng hạnh phúc và bình an, hai món hàng cần thiết như hơi thở trong không gian như lương thực cho cơ thể không mấy người mua sắm được. Thiếu vắng bình an, cây hạnh phúc trong tâm hồn rũ tàn chết khô, cây bối rối và cây phiền muộn xum xuê vươn cánh đơm bông nở nhụy. Khi hai tòa nhà cao ngất trời của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế của thành phố New York hóa ra tro bụi vào một buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, mọi người trên thế giới đã biết rằng, không còn nơi nào trên quả địa cầu còn được gọi là vùng đất của bình an. Thật vậy, thế giới càng văn minh, nhân loại càng mất bình an chính vì đời sống tâm linh ngày càng trở nên khan hiếm hoặc héo úa trong từng mảnh tâm hồn của nhân loại. Tương tự như những người môn đệ của thuở xưa, bởi không có tâm thương yêu, tâm tha thứ, bởi không có niềm tin và Đức Giêsu hiện diện trong căn phòng kín của tâm hồn, bạn và tôi sẽ tiếp tục thất vọng, lo lắng, phiền muộn, và bối rối với cuộc sống và với chính mình. Vào những lúc bạn cảm thấy phiền muộn, bối rối, thất vọng với chính mình và với cuộc sống, mời bạn, chúng ta cùng hướng về căn phòng đóng kín cửa với Đức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện ở giữa căn phòng, và nói với Ngài,



Lời Nguyện

Lạy Chúa, trong Mùa Phục Sinh, xin chúc lành trên con lời chúc bình an năm xưa để con thôi không còn lo lắng, phiền muộn, và bối rối như những người môn đệ trong căn phòng đóng kín cửa. Lạy Chúa, những khi con thất vọng với chính con, với những sa ngã, với những lỗi lầm của con và của anh chị em con, xin ban cho con lời chúc bình an của Chúa năm xưa, để tâm hồn của con thôi lo lắng, buồn phiền, nhưng ngập tràn hạnh phúc, và bình an.

□ Nguyễn Trung Tây, SVD
www.nguyentrungtay.com
Văn Hóa
Đời vẫn còn đây ''Ngày Thứ Sáu''
Sơn Ca Linh20/04/2014
ĐỜI VẪN CÒN ĐÂY “NGÀY THỨ SÁU !”

Cứ tưởng từ lâu thành cổ tích,
Chuyện người “Thợ Mộc” bị đóng đinh,
Trên đồi hoang một chiều hoang tái,
Mà nguyên nhân cũng một chuyện tình !

Nhưng Người đến, Người đi rồi ở lại,
Để trần gian nhắc mãi chuyện ngày xưa.
Tình yêu mà, nói bao nhiêu cho đủ !
Và khổ đau, kể mấy cho vừa !

Thế giới từ lâu có bao “Ngày thứ Sáu”,
Ngày khổ đau, phản bội, nhục hình.
Ngày tai ương hoạn nạn với điêu linh,
Ngày mẹ mất con, vợ xa chồng, và trẻ em mồ côi lưu lạc.

Thứ Sáu của tai nạn trên đường cao tốc,
Của chuyền bay “Mất Hút” (MH 370) mù tăm,
Của phà Sewol biền biệt lặng thầm,
Bao sinh mạng dập vùi trong vực thẳm !

Thứ Sáu của chiều xưa ảm đạm,
Của hôm nay ai oán đoạn trường,
Của trần gian mang kiếp phận bi thương,
Của thập giá mang tên chung tội lỗi !

Ngài vẫn còn đi trên khắp lối,
Vẫn mang thập giá với anh em.
Mang hết khổ đau và tội lỗi,
Để làm nên của lễ diệu hiền.

Xin nhắn ai về mang thập giá,
Như người kẻ trộm ở kề bên,
Đời vẫn còn đây ngày thứ Sáu,
Nhưng kìa hy vọng đã bừng lên !

Sơn Ca Linh

Tài Liệu - Sưu Khảo
Tính chất bất khả thấu triệt của hữu thể
Lm. Nguyễn Hữu Thy20/04/2014
Tính chất bất khả thấu triệt của hữu thể

Công trình khảo cứu về sự nhận thức thực tại của triết gia Josef Pieper

Người ta vốn khẳng định rằng chân lý hiện diện ở đâu thì thực tại cũng có mặt ở đó. Nhưng ở đây một câu hỏi lại được đặt ra: Thực tại là gì? Hay người ta cũng có thể đặt câu hỏi kiểu khác: Phải chăng thực tại nhất thiết phải là điều do con người cấu tạo nên, hầu người ta có thể nhận thức được nó? Đây là những vấn nạn mà triết gia người Đức Josef Pieper (1904-1997), vốn sinh trưởng tại thị trấn Münster thuộc miền Bắc Đức, đã suốt đời nỗ lực tìm kiếm một giải đáp hợp lý và qua đó đã nêu lên sự tương quan bất khả phân ly của nhân chủng học, của lý thuyết nhận thức và của sự tri thức về thực tại.

Một thiên khảo luận bàn về sự chân chính của quan niệm triết học Pieper đã được gửi đến phân khoa Triết học, thuộc Đại học Kỹ thuật Dresden, do nữ triết gia Hanna-Barbara Gerl-Falkovitz làm khoa trưởng. Điều gây nhiều chú ý ở đây là tác giả thiên khảo luận ấy đã can đảm đưa ra một sự so sánh. Ông đặt suy tư của Pieper tương quan với những dự thảo triết học quan trọng đương đại; đó chính là công trình nghiên cứu dựa vào vấn nạn trọng điểm triết học mang tính cách hướng dẫn trong việc tiếp cận thực tại.

Với tựa đề: „Thực tại và Triết học: Đi tìm kiếm một ý niệm triết học phù hợp với thực tại“, thì bước đầu của tác giả là đưa ra những nỗ lực tìm kiếm câu trả lời mang tính cách triết học và lịch sử về văn hóa, đó là những nỗ lực luôn đặt nặng đặc biệt sự nhận thức về lao động, về lãnh vực cảm nghiệm, về khoa triết học ngôn ngữ, về khoa thần học và nhất là về sự phê bình quan điểm triết học của Schelling, của Jasper và của Klaus Müller (Münster).

Tiếp đến, những tương quan nhân chủng học của vấn đề giá trị cũng được nêu ra. Sự nhận thức về Thiên Chúa là hành động mang tính cách sáng tạo và là điều kiện khả dĩ cho sự tương quan của thực tại trên tinh thần nhận thức của con người. Trên thực tế, Pieper luôn bàn đến thực tại „người“ và đến những điều được phú bẩm vào sở trường khả dĩ trong con người. Ngay chính trong khoa đạo đức học của ông, Pieper đã dồn hết tinh thần vào „ultimatum potentiae“, vào khả năng tối hậu của con người. Như vậy, con người chỉ có thể „chân thật“ và „tốt“, tức „thật sự tốt“, nếu con người sẵn sàng thực hiện chân lý và sự đồng hữu của mình trong cộng đồng nhân loại; hay nói theo ngôn ngữ đại chúng là nếu con người sống một cách hòa đồng, khôn ngoan và đúng đắn trong xã hội. Sự xung khắc giữa quan điểm triết học của Pieper không chỉ với nền triết học Hy Lạp, nhưng cả với quan điểm triết học của các triết gia tân thời, như: Adorno, Gehlen, Rorty, Kant và Heidigger, v.v…, đều được đưa ra bàn luận.

Trong việc hiện thực tất cả những gì tàng ẩn trong con người, thì điều kiện tiên quyết là đòi hỏi sự dấn thân thực sự của con người, nghĩa là trong trường hợp nhất thiết phải bảo vệ chân lý và sự công bằng, con người phải sẵn sàng chấp nhận bị thiệt thòi, mất mát và bị thương tổn. Đây là điều mà theo ngôn ngữ truyền thống người ta gọi là sự dũng cảm và sự hy sinh, những điều mà chứng nhân của chân lý sẽ thấu triệt được sau ngày tận cùng của thời gian.

Trong chương viết về „Cắt nghĩa tính chất lịch sử của con người“, Pieper đã bày tỏ sự xung khắc với triết học về lịch sử của Immanuel Kant, và cả với cái được gọi là „Antichrist“ (Kẻ phản Kitô). Đây là một trong những chương gay cấn và căng thẳng nhất trong toàn bộ công trình khảo cứu và vì thế đã giúp cho nhà thần học nhận chân được rằng việc phải cân nhắc thật cẩn thận và chắc chắn về lịch sử là điều cần thiết như thế nào. Bởi vì Thiên Chúa trong Do-thái và trong Kitô giáo, Đấng mà Pieper luôn qui chiếu trong tư tưởng triết học của ông, là một Thiên Chúa của sự sống và của lịch sử. Và bởi vì Thiên Chúa của sự sống chính là Thiên Chúa của lịch sử, nên lịch sử ấy đã trở thành lịch sử cứu độ và mang một tên xưng riêng: „Trời mới và đất mới.“

Trong bước thứ ba, Pieper đã đưa ra thảo luận đề tài „Triết học về thực tại trong cuộc đàm thoại với triết học đương đại“. Điều ấy muốn nói rằng Pieper tranh cãi với Martin Heidegger về „bản thể của chân lý“, với Jean-Paul Sartre về „tính chất sáng tạo“ và „bản tính con người“; và Pieper cũng trao đổi với Robert Spaemann, một triết gia Công Giáo thời danh người Đức hiện tại, về Thiên Chúa và tương khắc với Hans-Georg Gadamer về „ngôn ngữ“ và „thuật chú giải triết học“.

Ở đây một câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng thực sự là “ngôn ngữ nói“, đúng như Gadamer, và sau đó là Heidegger, quan niệm, hay „con người nói“? Thuật chú giải triết học của Gadamer cũng rơi vào trong điểm nóng của sự tranh cãi mang tính cách phê bình như Herbert Schädelbach cho rằng: „Triết học chỉ là một phần của khoa học tinh thần mà thôi.“

Cuối cùng, dưới tựa đề „Đề cao và đào sâu“, tư tưởng của Pieper lại một lần nữa được đưa ra mổ xẻ phân tích và phê bình một cách xây dựng. Thật ra đó là một sự tập hợp khéo léo sự phát biểu của Martin Heidegger về „hữu thể và sự chết“, cũng như sự nhận thức của Romano Guardini về con người và cá vị qua việc thực thi sự „chấp nhận chính cá vị ấy“ cũng như điều mà Karl Rahner gọi là „cảm nghiệm siêu nghiệm“. Ở đây, „triết học về số sinh xuất“ của nữ triết gia Hannah Arendt và sự tiếp thu của Pieper về Kant cũng được đưa ra thảo luận một cách cặn kẽ và chi tiết.

Nói một cách tổng quát, công trình khảo cứu đã tạo nên được ấn tượng mạnh mẽ nhờ sự phân tích chính xác và nhờ sử dụng một ngôn ngữ trau chuốt. Và trong cuộc đàm thoại với các đại diện của triết học và thần học đương thời, tư tưởng Pieper không những được phản ảnh đầy tính cách phê bình, nhưng còn được diễn tả lại một cách xây dựng. Qua cuộc đàm thoại này, người ta nhận thấy rằng, quan điểm triết học của Pieper không hề dừng lại trong khuynh hướng „philosophia perennis“, khuynh hướng triết học bền vững, nhưng nó có được là chính nhờ Pieper đã loại trừ được tất cả những hình thức ngây ngô trong quá khứ về sự nhận thức thực tại qua một sự tiêu cực về tính khả nhận thức của nó còn nguy hại hơn nữa.

Pieper thành công trong vấn đề này là nhờ vào tính chất chuyển hoán của „cái độc nhất“ (unum); của „cái thật“ (verum) và của „cái tốt“ (bonum), nghĩa là nhờ vào những xác định siêu nghiệm của hữu thể („ens“, „aliquid“ và „res“….) Những cái siêu nghiệm này thiết lập nên – như Pieper cùng với Thomas Aquinô (Thomas Aquinô: De Veritate, 1.1C) nhấn mạnh – thực tại mang tính chất sáng tạo. Và chính sự nhận thức về thực tại của con người được đặt nền tảng trên những cái siêu nghiệm ấy; cả quyền lực phong phú cũng như chiều kích sâu thẳm vô tận của chúng cũng được thể hiện trong đó, chiều kích minh giải sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Nhưng chính Thiên Chúa – hữu thể của mọi hữu thế, tức nguồn gốc làm phát sinh mọi hữu thể –, Đấng vượt lên trên mọi khả năng và phạm trù nhận thức của trí năng con người, bảo đảm và đặt nền tảng cho sự bất khả thấu triệt của công trình sáng tạo của Người, một công trình mà nếu không có Người, thì không bao giờ xảy ra.

Đối với trí năng con người, thực tại một đàng là thế giá hướng dẫn sự nhận thức của con người và một đàng khác lại đối kháng sự nhận thức ấy, vì nó vượt lên trên mọi phạm trù nhận thức của con người.

Qua đó chúng ta có thể nhận chân được rằng hữu thể là một cái chi luôn có đó và là một cái chi hoàn toàn tròn đầy, viên mãn, bất khả thêm bớt. Nói cách khác, hữu thể là một cái chi đòi hỏi người ta phải chấp nhận nó như nó vốn là nó, chứ không thể can thiệp, thay đổi hay phủ nhận được. Những tùy thể của thực tại có thể bị thay đổi, thêm bớt, nhưng chính bản thể hay yếu tính của nó thì hoàn toàn bất biến. Ví dụ: Những tùy thể „tốt“ - „xấu“ - „cao“ - „thấp“ v.v… người ta có thể thêm vào hay gán cho thực tại „người“, còn chính thực tại „người“ thì luôn vẫn thế, bất biến, không thể thay đổi và thêm bớt.

Chính vì thế, thực tại luôn khơi dậy và thôi thúc nơi con người nỗi khắc khoải triết học là phải đi tìm chân lý. Pieper nhấn mạnh tính chất bất khả thấu triệt này của thực tại và qua đó ông đạt được khả năng và sự tiếp cận thực sự đối với tất cả những nỗ lực tìm kiếm sự giải đáp sau cùng, cũng như đối với sự tổng quát hóa có hệ thống và sự tổng quát hóa khép kín một cách hệ thống, tức sự tổng quát hóa làm cho quan điểm triết học sâu xa và hoàn hảo của ông dừng lại ở mức độ mà tư tưởng đương thời có thể tiếp cận được.

Và giá trị của công trình nghiên cứu trên là ở chỗ: đã chứng minh cho thấy khả năng nối kết đáng ngạc nhiên ấy của Triết gia Josef Pieper mang tính chất kiểu mẫu cũng như khả chuẩn nhận. Hơn nữa, chính việc học hỏi công trình khảo cứu ấy mang lại niềm phấn khởi, vâng, nó cổ xúy người ta ít nhất là một lần nào đó tự tay cầm lấy tác phẩm của Pieper và nghiên cứu, tác phẩm mà chính giáo sư triết gia Berthold Wald đã cho xuất bản toàn bộ một cách hoàn hảo tại nhà in Meiner Verlag tại Hamburg.

Sácht tham khảo:

Henrik Holm: „Die Unergründlichkeit der kreatürlichen Wirklichkeit. Eine Untersuchung zum Verhältnis von Philosophie und Wirklichkeit bei Josef Pieper.“ Thelem Verlag, Dresden 2011, 240 Seiten.
Từ điển Việt - Bồ - La giúp hiểu rõ ý nghĩa một số kinh đọc Chúa Nhật và lễ trọng
Sr.Minh Thùy20/04/2014
TỪ ĐIỂN VIỆT - BỒ - LA GIÚP HIỂU RÕ Ý NGHĨA MỘT SỐ KINH ĐỌC Chúa Nhật VÀ LỄ TRỌNG

Trong những ngày qua tôi đã gởi đến quý vị phần I gồm ý nghĩa một số từ cổ trong các kinh đọc thường ngày, phần II tiếp theo đây là ý nghĩa các từ cổ trong các kinh đọc ngày Chúa Nhật, lễ trọng và các kinh cầu.

Trong phần I, một số độc giả thắc mắc tại sao ngoài Từ điển Việt – Bồ - La tôi lại ưa trích dẫn “Phép giảng tám ngày” hoặc “Tự Vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc. Xin thưa:

‒ Thứ nhất, như mọi người đã biết cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đã cho xuất bản ba quyển sách đầu tiên bằng Chữ Quốc Ngữ tại Roma năm 1651: (1).Ngữ pháp tiếng Việt, in chung trong phần đầu cuốn Từ điển Việt - Bồ - La; (2).Từ điển Việt - Bồ - La; (3).Phép giảng tám ngày. Bộ ba cuốn sách này có thể cho chúng ta cái nhìn tổng quan về tiếng Việt thế kỉ XVII, thời các giáo sĩ đến truyền giáo tại Việt Nam. Một cuốn ngữ pháp, một cuốn từ điển và một tác phẩm văn xuôi có thể nói đó là bộ ba điển hình có thể dùng để khảo sát một ngôn ngữ nào đó trong một giai đoạn lịch đại nào đó. Chính vì thế, để lấy thêm cứ liệu dẫn chứng ngoài Từ điển Việt – Bồ - La tôi thường trích thêm “Phép giảng tám ngày” là tác phẩm văn xuôi bằng chữ quốc ngữ đầu tiên, của cùng một tác giả, cùng một lần xuất bản.

‒ Thứ hai, sau “Từ điển Việt – Bồ - La” hơn 100 năm (1772-1773), cuốn từ điển tiếng Việt thứ hai chào đời đó là cuốn “Tự Vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc (Pierre Pegneaux de Béhaine). Hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ học đều công nhận “Tự Vị Annam Latinh” có kế thừa “Từ điển Việt – Bồ - La”; Cụ Nguyễn Đình Đầu trong phần “thay lời giới thiệu - Tự Vị Annam Latinh” cũng đã ghi nhận như thế. Hai cuốn “Từ điển Việt – Bồ - La” và “Tự Vị Annam Latinh” gần như là “cặp đôi hoàn hảo”, vì hai cuốn từ điển này đặc trưng phản ánh diện mạo tiếng Việt Trung Đại. Từ điển Việt – Bồ - La làm nền tảng cho Tự Vị Annam Latinh và ngược lại Tự Vị Annam Latinh bổ sung và hoàn thiện Từ điển Việt – Bồ - La.

Đó là lý do tại sao tôi thường trích dẫn kèm “Phép giảng tám ngày” và “Tự Vị Annam Latinh” mỗi khi Từ điển Việt – Bồ - La không đáp ứng đủ để giải thích các từ cổ.

Phần tiếp sau đây là giải nghĩa các từ cổ trong các kinh đọc Chúa Nhật, Lễ Trọng và các Kinh Cầu.

1. Kinh Nghĩa Đức Tin

Ngày Chúa Nhật hôm nay (hay lễ trọng nào thì đọc: ngày lễ...), chúng con hợp nhau kính lạy thờ phượng Chúa, khong khen cảm tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho chúng con, và phạt tạ Chúa vì những tội lỗi chúng con đã phạm mất lòng Chúa, thì chúng con dám xin Chúa hãy khứng ban những ơn cần kíp cho chúng con được rỗi linh hồn. Nên chúng con cả lòng tin vững vàng mọi điều đạo thánh Chúa dạy, nhất là những điều cần kíp này: là có một Đức Chúa Trời phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, mà Người có Ba Ngôi: Ngôi Thứ Nhất là Cha, Ngôi Thứ Hai là Con, Ngôi Thứ Ba là Thánh Thần, Ba Ngôi cũng một tính một phép cho nên Ba Ngôi cũng một Chúa mà thôi.

Chúng con tin Ngôi Thứ Hai ra đời làm người sinh bởi Bà Maria đồng trinh, đặt tên là Giêsu; ở thế gian ba mươi ba năm, đoạn chịu chết trên cây thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ, đến ngày thứ ba Người sống lại, khỏi bốn mươi ngày lên trời, đủ mười ngày lại cho Đức Chúa Thánh Thần xuống trên các Thánh Tông Đồ và Hội Thánh mới lập; ai chẳng thông công cùng Hội Thánh ấy thì chẳng được rỗi linh hồn; mà linh hồn là giống thiêng liêng chẳng hề chết được; và đến ngày tận thế xác loài người ta sẽ sống lại mà chịu phán xét, kẻ lành lên thiên đàng hưởng phúc đời đời, kẻ dữ sa hỏa ngục chịu phạt vô cùng.

Mà chúng con tin các sự ấy mà thôi thì chưa đủ cho được lên thiên đàng; song phải giữ Mười Điều Răn Đức Chúa Trời cùng Sáu Luật Điều Hội Thánh, và làm những việc lành phúc đức. Nhân vì sự ấy chúng con hằng phải sợ hãi và trốn tránh các tội lỗi, nhất là bảy mối tội đầu, là căn nguyên mọi tội lỗi khác.

Vậy chúng con phải ân cần lo lắng mà năng chịu các phép Bí Tích Đức Chúa Giêsu đã truyền, là những phương linh nghiệm cho chúng con được nên thánh. Có bảy phép Bí Tích mà thôi; song phép Rửa Tội, phép Mình Thánh Chúa cùng phép Giải Tội là ba phép cần kíp hơn cho chúng con được rỗi.

Ấy vậy, chúng con hằng phải ra sức lo lắng thể nào mà chịu các phép trọng ấy cho nên, cùng tin thật vững vàng mà giữ cẩn thận các điều trước này, thì mới được hưởng phúc thanh nhàn đời đời kiếp kiếp. Amen.

- Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “kính lạy thờ phượng Chúa”: nếu tra Từ điển tiếng Việt hiện đại thì cả hai từ này đều không có. Từ điển Việt – Bồ - La giải thích “kính lạy” nghĩa là “thờ lạy”, “thờ phượng” cũng có nghĩa là “thờ lạy”. Trong tiếng Việt việc ghép hai từ đồng nghĩa để làm tăng mức độ biểu cảm của ý nghĩa từ ngữ mình muốn diễn đạt đó là cách thường thấy, ví dụ: đời đời kiếp kiếp, thiên thu vạn đại, giàu sang phú quý,... Các giáo sĩ thời ấy đã áp dụng cách ghép từ có trong tiếng Việt này, để có ý nhấn mạnh đến việc thờ lạy Chúa.

- Cụm từ “khong khen cám tạ ơn Chúa”: Từ điển Việt – Bồ - La có mục từ “khen” với nghĩa là “khen”, không có mục từ “khong khen”. Tự Vị Annam Latinh có mục từ “khong khen” với nghĩa là “khen” dưới dạng từ láy, trong đó yếu tố “khong” là yếu tố không có nghĩa. Nếu cụm từ “khong khen cám tạ ơn Chúa” mà bỏ từ láy “khong khen” đi, thay vào đó bằng từ “khen”, thì cụm từ ghép “khen cám tạ” sẽ không đối ứng về mặt âm và không vần, không điệu, rất khó đọc. Các giáo sĩ đã chọn lựa từ rất hợp lý bằng cách ghép từ láy “khong khen” với từ “cám tạ” vừa để bổ trợ với nhau về mặt nghĩa, vừa tạo thành từ ghép song tiết nhịp đôi rất dễ đọc, có nghĩa là “ca khen và cám tạ ơn Chúa”.

- Cụm từ “và phạt tạ Chúa”: Từ điển Việt – Bồ - La không có từ “phạt tạ”, Tự Vị Annam Latinh chú thích từ “phạt tạ” có nghĩa là “khiêm tốn xin tha thứ”. Như thế, nghĩa của nguyên câu kinh sẽ là “khiêm tốn xin Chúa tha thứ vì những tội lỗi chúng con đã phạm mất lòng Chúa”.

- Tiếp đến là cụm từ “thì xin Chúa hãy khứng ban những ơn cần kíp”: từ “khứng” trong Từ điển Việt – Bồ - La có nghĩa là “muốn” và nghĩa mà từ điển tiếng Việt hiện đại ghi chú là “ưng, thuận”. Nghĩa trong Từ điển Việt – Bồ - La là nghĩa chủ động “muốn”, nghĩa trong tiếng Việt hiện đại là nghĩa thụ động “ưng, thuận”. Nghĩa trọn vẹn của câu cách dễ hiểu là: “xin Chúa muốn (chủ động theo ý Chúa) ban những ơn cần kíp cho chúng con”. Có thể hiểu thêm nghĩa của câu kinh là: ơn ban là những gì tùy thuộc vào tình thương và lòng nhân lành của Chúa, do ý Chúa “muốn” chứ không phải do chúng con “kèo nài” và Chúa chỉ có việc “ưng, thuận” hay bằng lòng thôi.

- Cụm từ “cả lòng” đã giải thích trong “Kinh Ăn Năn Tội” ở bài trước. “Cả lòng tin vững vàng” nghĩa là dồn hết lòng tin vào Chúa, tin cách vững vàng mạnh mẽ.

- Cụm từ “Ba Ngôi cũng một tính, một phép”: Từ điển Việt – Bồ - La có từ “phép” với bốn nét nghĩa khác nhau, nghĩa từ “phép” trong cụm từ này là “quyền năng” đây là nghĩa mà từ điển tiếng Việt hiện đại không có. Chúng ta cũng gặp từ “phép” với nghĩa “quyền năng” trong cụm từ “phép tắc” đã giải thích trong Kinh Cậy ở bài trước. Cụm từ “Ba Ngôi cũng một tính, một phép” nghĩa là: Ba Ngôi cùng một bản tính, cùng một quyền năng như nhau. Từ điển Việt – Bồ - La cũng giải thích “tính” có nghĩa là bản tính, bản thể. Chúng ta cũng gặp nghĩa từ “phép” này trong cụm từ “phép lạ” nghĩa là thể hiện quyền năng cách lạ lùng.

- Cụm từ “khỏi bốn mươi ngày lên trời”: Từ điển Việt – Bồ - La giải thích từ “khỏi” nghĩa là “đã vượt qua, đã qua”, tác giả lấy ví dụ: “khỏi hai ngày” nghĩa là “đã qua hai ngày, như vậy “khỏi bốn mươi ngày lên trời” nghĩa là “qua bốn mươi ngày, lên trời”...

- Trọn vẹn câu kinh là: “Chúng con tin Ngôi Thứ Hai ra đời làm người sinh bởi Bà Maria đồng trinh, đặt tên là Giêsu; ở thế gian ba mươi ba năm, đoạn chịu chết trên cây thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ; đến ngày thứ ba Người sống lại; qua bốn mươi ngày, lên trời...” Qua câu kinh này, chúng ta gặp cả vấn đề về ngữ pháp và việc đặt dấu ngắt câu; nhưng tôi tạm dừng ở việc dùng Từ điển Việt – Bồ - La để soi sáng ý nghĩa các từ ngữ; còn phần về việc giải thích ngữ pháp và việc dùng dấu ngắt câu của tiếng Việt thế kỉ XVII, tôi sẽ dành giải thích và gởi đến độc giả trong các nghiên cứu sau này.

- Cụm từ “linh hồn là giống thiêng liêng”: từ “giống” trong tiếng Việt thế kỉ XVII cũng có những nét nghĩa như trong tiếng Việt hiện đại, nhưng kết hợp “giống thiêng liêng” lại là kết hợp của tiếng Việt thế kỉ XVII. Tiếng Việt hiện đại chỉ có kết hợp “loài thiêng liêng” không ai nói “giống thiêng liêng” cả; mặc dù nghĩa như nhau, nhưng bối cảnh kết hợp và chọn lựa từ của hai giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác nhau.

- Cụm từ “nhân vì sự ấy” nghĩa là “bởi vậy, vì vậy”, cụm từ này chúng ta có thể gặp trong rất nhiều kinh cũng như các chặng đàng thánh giá trong các sách kinh.

- Cụm từ “phương linh nghiệm”: nếu tra từ điển tiếng Việt hiện đại chúng ta sẽ hiểu cụm từ này nghĩa là “phương cách có hiệu quả, hiệu nghiệm”, nhưng nếu hiểu theo nghĩa này thì ý nghĩa của câu kinh sẽ rất hạn hẹp. Từ điển Việt – Bồ - La giải thích “phương linh nghiệm” là “phương thức siêu nhiên”. Câu kinh: “là những phương linh nghiệm cho chúng con được nên thánh” nghĩa là “là những phương thức siêu nhiên giúp chúng con được nên thánh”.

- “Vậy chúng con phải ân cần lo lắng”: Từ “ân cần” trong tiếng Việt hiện đại chẳng có nét nghĩa nào phù hợp với câu kinh. Từ điển Việt – Bồ - La giải thích “ân cần” nghĩa là “chăm chỉ”. Nghĩa của câu kinh là “chăm chỉ siêng năng chịu các phép Bí Tích Đức Chúa Giêsu đã truyền”.

- Chúng ta cũng gặp lại từ “chịu” với nét nghĩa tích cực trong cụm từ “chịu các phép trọng”, là nét nghĩa mà chỉ trong tiếng Việt thế kỉ XVII mới có.

- Cụm từ “hưởng phúc thanh nhàn”: Từ điển Việt – Bồ - La giải thích “thanh nhàn” nghĩa là “không thay đổi, vững bền”, “phúc thanh nhàn” nghĩa là phúc vững bền, không thay đổi. Chúng ta gặp lại kiểu ghép các từ đồng nghĩa để làm gia tăng nét nghĩa muốn diễn tả “hưởng phúc thanh nhàn đời đời kiếp kiếp”: nghĩa là “hưởng phúc vững bền mãi mãi”.

2. Kinh Mười Điều Răn

Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn

Thứ nhất: thờ phượngmột Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.

Thứ hai: chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.

Thứ ba: giữ ngày Chúa Nhật.

Thứ bốn: thảo kính cha mẹ.

Thứ năm: chớ giết người.

Thứ sáu: chớ làm sự dâm dục.

Thứ bảy: chớ lấy của người.

Thứ tám: chớ làm chứng dối.

Thứ chín: chớ muốn vợ chồng người.

Thứ mười: chớ tham của người.

Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.

- Kinh “mười điều răn”, từ “răn” trong tiếng Việt hiện đại không có nghĩa phù hợp với kinh này. Từ điển Việt – Bồ - La giải thích “răn” là “lệnh truyền”, như vậy chúng ta hiểu “mười điều răn” nghĩa là “mười lệnh truyền” của Thiên Chúa. Cũng như thế chúng ta hiểu “sáu điều răn Hội Thánh” nghĩa là “sáu điều Hội Thánh truyền lệnh” buộc phải giữ.

- Trong kinh này chúng ta gặp lại từ “thờ phượng” nghĩa là “thờ lạy” đã giải thích trong Kinh Nghĩa Đức Tin; cụm từ “kính mến” nghĩa là “kính yêu” đã giải thích trong Kinh Mến. Có một cụm từ cổ đặc biệt “mà chớ”, một thời gian nhiều nơi đã không hiểu rõ nghĩa và sửa lại “mà nhớ”. Thực ra người sửa lại thành “mà nhớ” cũng có dụng ý của người sửa, nhưng nghĩa của “mà chớ” rất hay và phù hợp với nghĩa toàn văn của câu kinh. Từ điển Việt – Bồ - La ghi “mà chớ” nghĩa là “không có gì hơn nữa, không còn gì hơn nữa”, tác giả còn giải thích thêm “có bấy nhiêu mà chớ” nghĩa là “có bấy nhiêu và không có gì hơn nữa, không có gì thêm nữa”. Câu kinh “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ” nghĩa là mười điều răn ấy chỉ tóm lại có hai điều thôi, không có gì hơn nữa, không cần phải thêm gì nữa, chỉ hai điều tóm lại ấy là đủ rồi.

3. Kinh Sáu Điều Răn

Hội Thánh có sáu điều răn:

Thứ nhất: xem lễ ngày Chúa Nhật, cùng các ngày lễ buộc.

Thứ hai: chớ làm việc xác ngày Chúa Nhật cùng các ngày lễ buộc.

Thứ ba: xưng tội trong một năm ít là một lần.

Thứ bốn: chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh.

Thứ năm: giữ chay những ngày Hội Thánh buộc.

Thứ sáu: kiêng thịt ngày thứ sáu, cùng những ngày khác Hội Thánh dạy.

- Trong kinh này chúng ta gặp từ “xem”, nếu dùng từ điển tiếng Việt hiện đại thì nghĩa không phù hợp một chút nào, có lẽ vì nghĩa hiện đại này mà có các bạn trẻ ngồi trên xe máy ngoài đường, ngồi gốc cây, ngồi tít ngoài xa xăm để “xem lễ”. Từ điển Việt – Bồ - La có mục từ “xem lễ thánh” nghĩa là “tham dự Thánh Lễ”, không phải là đứng ngoài xa mà xem, mà là dự phần vào hoạt động đó. Đó là nghĩa chính mà mỗi người cần hiểu rõ trong điều răn Hội Thánh đòi hỏi khi dự lễ. Chúng ta cũng gặp lại từ “chịu Mình Thánh” với nghĩa của từ “chịu” nghĩa tích cực mà từ điển tiếng Việt hiện đại không có, đã được giải thích trong Kinh Truyền Tin.

4. Kinh Bảy Phép Bí Tích

Đạo Đức Chúa Trời Có Bảy Phép Bí Tích:

Thứ Nhất: Là Phép Rửa Tội.

Thứ Hai: Là Phép Thêm Sức.

Thứ Ba: Là Phép Mình Thánh Chúa.

Thứ Bốn: Là Phép Giải Tội.

Thứ Năm: Là Phép Xức Dầu Thánh.

Thứ Sáu: Là Phép Truyền Chức Thánh.

Thứ bảy: là Phép Hôn Phối.

- Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “phép Bí Tích”: Từ “bí tích” xin tìm đọc ở các từ điển Công Giáo hiện đại, vì cả ở Từ điển Việt – Bồ - La và Tự Vị Annam Latinh đều không có từ “bí tích”. Tuy nhiên, Từ điển Việt – Bồ - La có rất nhiều mục từ với từ “phép” đồng nghĩa với từ “bí tích”. Ví dụ tác giả ghi nhận “làm phép giải tội” nghĩa là “làm bí tích tha tội”; “Đức Chúa Jesu truyền phép giải tội” nghĩa là “Chúa Jesu truyền lại cho chúng ta bí tích tha tội.v.v.” Chúng ta cũng gặp nghĩa của từ “phép” này trong cụm từ “phép thiêng”, “phép nhiệm” của Từ điển Việt – Bồ - La nghĩa là “khả năng kín ẩn”. Ở mục từ khác tác giả Từ điển Việt – Bồ - La ghi chú “phép” cũng nghĩa là “nghi lễ”. Kết hợp hai nghĩa của hai mục từ “phép” này chúng ta có được nghĩa của từ “bí tích”, nghĩa là một “nghi lễ” bên ngoài với các “dấu ấn, khả năng kín ẩn” bên trong. Như vậy có thể nói từ “phép” trong tiếng Việt thế kỉ XVII tương đương với nghĩa của từ “bí tích” chúng ta dùng hiện nay.

5. Kinh Mười Bốn Mối

Thương người có mười bốn mối

Thương xác bảy mối:

Thứ nhất: cho kẻ đói ăn.

Thứ hai: cho kẻ khát uống.

Thứ ba: cho kẻ rách rưới ăn mặc.

Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.

Thứ năm: cho khách đỗ nhà.

Thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi.

Thứ bảy: chôn xác kẻ chết.

Thương linh hồn bảy mối:

Thứ nhất: lấy lời lành mà khuyên người.

Thứ hai: mở dạy kẻ mê muội.

Thứ ba: yên ủi kẻ âu lo.

Thứ bốn: răn bảo kẻ có tội.

Thứ năm: tha kẻ dể ta.

Thứ sáu: nhịn kẻ mất lòng ta.

Thứ bảy: cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

- Tựa đề kinh này là “Kinh Mười Bốn Mối”, chúng ta gặp từ “mối”: từ này có nét nghĩa hoàn toàn không tìm thấy trong từ điển tiếng Việt hiện đại. Từ điển Việt – Bồ - La ghi nhận “mối” nghĩa là “điều” hay “khoản”. Nghĩa là “thương người có mười bốn điều, thương xác bảy điều, thương linh hồn bảy điều”. Nghĩa thứ hai của từ “mối” là “đầu mối” từ đó phát sinh ra những điều tiếp theo. Từ “mối” trong “Kinh Cải Tội Bảy Mối”, “Kinh Phúc Thật Tám Mối” dưới đây cũng có hai nghĩa như vậy.

- Trong suốt kinh này chúng ta gặp từ “kẻ” là từ khiến chúng ta rất dễ dị ứng, bởi vì hiện nay từ “kẻ” thường đi kèm với những từ có sắc thái tiêu cực như“kẻ cướp”, “kẻ gian”, “kẻ thù”... Nhưng vào thời Từ điển Việt – Bồ - La từ “kẻ” có nét nghĩa trung tính nghĩa là “người”. Chúng ta cũng thấy câu tục ngữ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” có từ “kẻ” cũng mang nét nghĩa trung tính là “người” như trong Từ điển Việt – Bồ - La ghi nhận vậy.

- Cụm từ “tù rạc” đã giải thích trong Kinh Bởi Lời, bài trước.

- Chúng ta cũng gặp cụm từ “cho khách đỗ nhà”: Từ “đỗ” trong Từ điển Việt – Bồ - La nghĩa là “ở lại”; “cho khách đỗ nhà” nghĩa là “cho khách ở lại trong nhà mình”. Tác giả từ điển còn ghi chú thêm “đỗ quán” nghĩa là “ở lại quán”; “chẳng đỗ lâu” nghĩa là “không ở lại lâu”... Tuy nhiên, nếu chỉ cho “khách” theo nghĩa hiện nay, nghĩa là những người trong quan hệ với chủ nhà thì câu kinh này cũng thường thôi, vì khách của mình thì mình phải cho họ ở lại trong nhà mình thì có gì lạ đâu. Nhưng, từ “khách” thời Từ điển Việt – Bồ - La có nghĩa là “người ngoài”, “người muốn trú trọ”, nói cách nôm na là người lỡ đường không có quan hệ gì với chủ nhà cả, người dưng. Như vậy “cho khách đỗ nhà” mới là mối phúc, mới là thương người, còn nếu đón tiếp “khách” của mình, thì đó là phép xã giao lịch sự chứ đâu phải là việc làm biểu lộ lòng thương người nữa.

- Cụm từ “chuộc kẻ làm tôi”: Từ “làm tôi” Tự Vị Annam Latinh dịch là “làm người phục dịch”, nghĩa là làm tôi tớ, làm đầy tớ. Từ “chuộc” Từ điển Việt – Bồ - La giải thích nghĩa là “mua lại, chuộc lại”. Vào thời phong kiến những người nghèo, những người tầng lớp dưới bị bán làm nô lệ, phục dịch cho người giàu và những tầng lớp trên trong xã hội. “Chuộc kẻ làm tôi” nghĩa là dùng tiền của mình để mua lại những người làm đầy tớ để cho họ được tự do. Câu kinh này trong bối cảnh hiện nay phải hiểu là nâng đỡ, cứu giúp những người nghèo khổ, giải thoát những ai bị áp bức...

- Cụm từ “mở dạy kẻ mê muội”: Từ điển Việt – Bồ - La không có từ “mở dạy”, nhưng có từ “mở đạo” nghĩa là “dạy đạo”. “Mở dạy” là từ ghép hai từ đồng nghĩa (‘mở’ cũng là ‘dạy’), để chỉ một nghĩa duy nhất là “dạy”. Từ “mê muội” có nghĩa là “dốt nát, ngu muội” (‘muội’ cũng là ‘ngu’). Hiểu nôm na là giúp đỡ những ai thiếu điều kiện học hiểu, những người không có cơ hội đến trường, không có phương tiện để hiểu biết những điều cần thiết.

- Cụm từ “răn bảo”: “răn” có nghĩa là “khuyên”. Chúng ta cũng gặp lại từ này trong tiếng Việt hiện đại “khuyên răn” (“răn” cũng có nghĩa là “khuyên”).

- Trong kinh này chúng ta gặp từ “dể” nghĩa là “khinh”. Tiếng Việt hiện đại có từ “khinh dể” ghép hai yếu tố đồng nghĩa để làm tăng mức độ biểu cảm, nhưng qua thời gian yếu tố “dể” đã mờ nghĩa.

- Từ “nhịn” trong cụm từ “nhịn kẻ mất lòng ta”: Từ điển tiếng Việt hiện đại ghi từ “nhịn” với hai nghĩa: -1.Tự ý để cho qua, không thỏa mãn nhu cầu nào đó của bản thân như nhịn đói, nhịn khát... -2.Dằn xuống không để biểu hiện sự phản ứng ra ngoài ví dụ như cố nhịn cười... Với hai nghĩa này trong tiếng Việt hiện đại không diễn tả được nghĩa của câu kinh. Từ điển Việt – Bồ - La ghi ba nghĩa của từ “nhịn” như sau: -1.nhịn: chịu đựng cách kiên trì; -2.nhịn: nhẫn nại (kiên trì, bền bỉ chịu đựng...); -3.nhịn: dung thứ (rộng lượng tha thứ). Với ba nghĩa này của từ “nhịn” theo Từ điển Việt – Bồ - La câu kinh sâu sắc và ý nghĩa tuyệt vời.

6. Kinh Cải Tội Bảy Mối

Cải tội bảy mối có bảy đức:

Thứ nhất: khiêm nhường, chớ kiêu ngạo.

Thứ hai: rộng rãi, chớ hà tiện.

Thứ ba: giữ mình sạch sẽ, chớ mê dâm dục.

Thứ bốn: hay nhịn, chớ hờn giận.

Thứ năm: kiêng bớt chớ mê ăn uống.

Thứ sáu: yêu người chớ ghen ghét.

Thứ bảy: siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ làm biếng.

- Lưu ý trong kinh này là: tiếng Việt thế kỉ XVII dùng từ “chớ” tương đương với từ “đừng” trong tiếng Việt hiện đại.

- Trong kinh này chúng ta gặp từ “sạch sẽ” hoàn toàn khác nghĩa với tiếng Việt hiện đại. Từ điển Việt – Bồ - La ghi chú “sạch sẽ” nghĩa là “trong sạch” (là có phẩm chất tốt đẹp, không bị một vết nhơ bẩn nào, một tâm hồn trong sạch), từ này đồng nghĩa với từ “thanh tịnh” (từ Hán Việt).

- Cụm từ “hay nhịn” đã giải thích trong Kinh Mười Bốn Mối ở trên.

7. Phúc Thật Tám Mối

Phúc thật tám mối:

Thứ nhất: ai có lòng khó khăn, ấy là phúc thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.

Thứ hai: ai hiền lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy.

Thứ ba: ai khóc lóc, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được yên ủi vậy.

Thứ bốn: ai khao khát nhân đức trọn lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy.

Thứ năm: ai thương xót người ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy.

Thứ sáu: ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.

Thứ bảy: ai làm cho người hòa thuận, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.

Thứ tám: ai chịu khốn nạn vì đạo ngay, ấy là phúc thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.

- Từ điển Việt – Bồ - La ghi chú một mục từ “phúc thật tám mối” nghĩa là “tám đầu mối phúc lạc chân thật”, hiểu nôm na là “tám đầu mối đem lại hạnh phúc chân thật” và đây là ý nghĩa trọn vẹn sâu sắc của kinh này.

- Trong kinh này chúng ta gặp một cấu trúc ngữ pháp lặp đi lặp lại rất hay của tiếng Việt thế kỉ XVII, nhưng về phần ngữ pháp tôi sẽ gởi đến quý vị trong các bài nghiên cứu sau. Các cụm từ “ấy là”, “vì chưng” lặp đi lặp lại trong tám mối phúc: từ “ấy là” có nghĩa “chính là”, “vì chưng” có nghĩa “bởi vì”, chúng ta có thể thay thế vào lời kinh và sẽ thấy dễ hiểu thêm.

- Từ “khó khăn” trong tiếng Việt hiện đại không phù hợp với lời kinh. Từ điển Việt – Bồ - La giải thích “khó khăn” nghĩa là “nghèo khó”, “khó khăn” với nghĩa “nghèo khó” đồng nghĩa với những câu đầu tiên Tin Mừng Matthêu chương 5. “Có lòng khó khăn” nghĩa là “có tinh thần nghèo khó chính là phúc thật”.

- Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “chịu khốn nạn vì đạo ngay”: từ “khốn nạn” trong tiếng Việt hiện đại đã có nét nghĩa “hèn mạt, không còn nhân cách, đáng khinh bỉ, nguyền rủa” không phù hợp chút nào với lời kinh. Từ điển Việt – Bồ - La và Tự Vị Annam Latinh giải thích “khốn nạn” nghĩa đơn giản là “khó nhọc, cực khổ” mà thôi. Từ “khốn nạn” đã thay đổi nghĩa nhiều trong tiếng Việt hiện đại.

Chúng ta cũng có từ “đạo ngay” trong câu kinh này. Từ điển Việt – Bồ - La không có mục từ “đạo ngay” nhưng Tự Vị Annam Latinh có mục từ này “đạo ngay” nghĩa là “đạo thật”. Tuy nhiên, trong “Phép giảng tám ngày” thì cha Đắc Lộ đã có bài giáo lý dài “ngày thứ bốn” phân tích các “đạo vạy” đối lập với “đạo ngay” là đạo Đức Chúa Trời. Chúng ta hiểu câu kinh này: ai chịu khổ cực, khó nhọc vì đạo Chúa Trời thì người ấy là người có phúc thật.

Sr.Minh Thùy (phần II- còn tiếp)

Phục Sinh 2014
VietCatholic TV
Video: Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII
VietCatholic Network20/04/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ phong thánh cho hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II vào ngày 27 Tháng 4 tới đây.

Việc chọn phong thánh cho hai vị cùng một ngày thật là đầy ý nghĩa. Cả hai vị đại Giáo Hoàng đều có những ảnh hưởng sâu đậm không những trên Giáo Hội mà còn cả trên vận mệnh của thế giới đương đại.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881. Ngài là người con thứ tư trong gia đình có mười bốn đứa con. Cha mẹ ngài là những tá điền sống trong một ngôi làng ở Lombardy, Italia.

Ngài được thụ phong linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 và đảm trách nhiều chức vụ khác nhau như sứ thần Tòa Thánh tại Pháp, Bulgaria và Hy Lạp.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tấn phong Hồng Y cho ngài ngày 12 Tháng Giêng năm 1953 và đặt ngài làm Thượng Phụ Thành Venice cũng như Hồng Y đẳng linh mục hiệu tòa Santa Prisca.

Đức Roncalli được bầu làm giáo hoàng vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 ở tuổi 76 sau mười một vòng bỏ phiếu. Những nhà bình luận thời ấy thường xem ngài như một vị Giáo Hoàng tạm thời. Tuy nhiên, Đức Gioan XXIII đã làm kinh ngạc họ với những dấu ấn ngài để lại cho Giáo Hội và thế giới.

Ngài đã triệu tập Công Đồng Vatican II lịch sử với phiên khai mạc đầu tiên vào ngày 11 tháng 10 năm 1962 và kéo dài cho đến ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8 tháng 12 năm 1965.

Ngày 14 tháng 10 năm 1962, tức là ba ngày sau khi Đức Thánh Cha Gioan XXIII khai mạc Công Đồng, máy bay do thám Mỹ phát hiện ra Cuba và Liên Xô đã bắt đầu xây dựng các dàn phóng tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung và tầm xa có khả năng tấn công hầu hết tất cả các thành phố trên nước Mỹ.

Tổng thống Kennedy đặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng chiến tranh, ráo riết triển khai các dàn phóng tên lửa hướng về Mạc Tư Khoa và Havana, phong toả Cuba, trong khi buộc Liên Sô và Cuba phải tháo gỡ các tên lửa. Bí thư đảng cộng sản Liên xô là Nikita Khrushchev không nhượng bộ còn đưa thêm tàu chiến áp sát Cuba và cho phép các tư lệnh chiến trường phóng các vũ khí hạt nhân chiến thuật, nếu Cuba bị Mỹ xâm lược.

Thế giới tiến gần đến gần ngày tận thế hơn bao giờ hết. Hàng triệu người theo dõi các cuộc thách thức trên truyền hình. Hai phía dường như không còn có con đường nào để thoát ra khỏi một cuộc chiến được dự đoán là không thể tránh khỏi.

Trước tình trạng mây đen chiến tranh đang tụ dần, che kín chân trời thế giới, ngày 25 tháng 10 năm 1962, trên radio Vatican, Đức Thánh Cha Gioan XXIII, đọc một diễn văn quan trọng bằng tiếng Pháp gởi tất cả các nhà lãnh đạo trên thế giới.

Ngài nói:

“Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại. Họ cần phải làm tất cả những điều có thể trong thẩm quyền của mình để cứu vãn hòa bình. Như thế, họ sẽ tránh cho thế giới khỏi các nỗi kinh hoàng của một cuộc chiến tranh, mà hậu quả đáng sợ của nó không ai có thể dự đoán được. Họ cần tiếp tục các cuộc thương thảo, vì lối cư xử thành thật và cởi mở này có giá trị to lớn như một chứng tá cho lương tâm của mọi người, và trước lịch sử. Cổ vũ, ủng hộ, chấp nhận các cuộc đối thoại, ở mọi cấp và bất kỳ lúc nào, là một quy luật của sự khôn ngoan và thận trọng, đem lại những ơn lành của trời và đất”.

Ngày hôm sau, thông điệp của Đức Giáo Hoàng xuất hiện trên các tờ báo trên khắp thế giới, trong đó có tờ Pravda (Sự thật), tờ báo chính thức của đảng Cộng sản Liên Xô. Nhan đề trong bài báo là: "Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại”.

Với lời nài xin của mình, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã cho thủ tướng Khrushchev một lối thoát trong danh dự. Bằng cách rút lui ngay lúc ấy, ông có thể được xem như là một con người của hòa bình, chứ không phải là một kẻ hèn nhát. Hai ngày sau, ông Khrushchev, một người vô thần, lãnh tụ của một đất nước luôn hăng máu hủy diệt tôn giáo, luôn cố gắng nuôi dưỡng một cuộc chiến tranh tuyên truyền không mệt mỏi chống Vatican, đã đồng ý rút các tên lửa. Đổi lại, Kennedy cũng đã bí mật đồng ý rút các tên lửa của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ.

Có một việc công chúng thời đó ít người biết là vào ngày 23 tháng 9 năm 1962, chỉ một tháng trước khi khai mạc Công Đồng Vatican II và giúp thế giới thoát khỏi bờ vực chiến tranh, kết quả việc chụp X-quang cho Đức Thánh Cha Gioan XXIII biết là ngài bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Ngài biết là mình sắp từ giã cõi đời này. Trong lúc bi đát như thế, ngài vẫn tiếp tục cống hiến hết sức mình cho Giáo Hội và thế giới.

Ngài được Chúa gọi về ngày 3 tháng 6 năm 1963.

Những người thời đó đều lưu giữ một ký ức sống động về cảm xúc lan toả trong những ngày ấy. Quảng trường thánh Phêrô lúc đó trở thành một đền thánh ngoài trời, đón tiếp cả ngày lẫn đêm các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và thành phần xã hội, lo lắng và cầu nguyện cho sức khỏe của Đức Giáo Hoàng. Toàn thể thế giới đã nhìn nhận Giáo Hoàng Gioan là một vị mục tử và một người cha của nhân loại. Điều gì đã làm nên con người ngài như thế? Làm thế nào mà ngài có thể chạm đến trái tim của của những con người quá khác biệt nhau như thế, thậm chí ngay cả những người không phải là Kitô hữu nữa?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể liên tưởng đến khẩu hiệu Giám mục của ngài: oboedienta et pax: vâng phục và bình an. "Những từ này," –Giám mục Roncalli đã ghi lại trước ngày thụ phong trong cuốn “Nhật Ký Một Linh hồn, tĩnh tâm để chuẩn bị thụ phong giám mục, 13-17 tháng 3 năm 1925”.

Bình an là khía cạnh rõ ràng nhất người ta dễ dàng nhận thấy nơi Đức Angelo Roncalli : bình an tự nhiên, thanh thản và thân ái. Đây rõ ràng là một nét đặc biệt về nhân cách của ngài, giúp ngài xây dựng tình huynh đệ bền chặt ở khắp mọi nơi, chẳng hạn trong thừa tác vụ là Đại Diện Tòa Thánh. Ngài đảm nhận cương vị này gần 3 thập niên, thường tiếp xúc với những môi trường và thế giới cách xa Thế Giới Công Giáo, nơi ngài được sinh ra và lớn lên. Chính trong những môi trường này mà ngài tỏ ra là người thợ dệt hữu hiệu các mối quan hệ và một người vô địch của tinh thần hiệp nhất, cả trong cộng đoàn Hội Thánh lẫn bên ngoài. Hơn thế nữa, ngài mở ra cuộc đối thoại với các Ki- hữu thuộc các Giáo Hội khác, với những người đại diện của Do thái giáo và thế giới Hồi giáo, và với nhiều người thiện chí khác.

Đức Giáo Hoàng Gioan đã chuyển ban bình an đến với những ai tiếp xúc với ngài bởi vì tâm hồn ngài chìm ngập trong bình an: ngài đã để cho Chúa Thánh Thần tạo nên bình an trong tâm hồn. Và tâm hồn ấy tràn ngập bình an là hoa trái của một công trình lâu dài và thách thức trên chính bản thân ngài, mà những dấu vết phong phú đã để lại trong cuốn “Nhật Ký của một Tâm Hồn”. Trong đó chúng ta có thể thấy Roncalli - người chủng sinh, linh mục, giám mục – bám chặt vào tiến trình tiệm tiến là thanh tẩy tâm hồn. Chúng ta thấy ngài, ngày qua ngày, nỗ lực nhận ra và loại trừ những ước muốn bắt nguồn từ tính ích kỷ của bản thân và biện phân những soi sáng của Chúa, để mình được hướng dẫn bởi những vị linh hướng khôn ngoan và được truyền cảm hứng từ những bậc thầy như thánh Phanxicô đệ Salê và thánh Carolo Boromeo. Đọc những bài viết đó, chúng ta thực sự thấy được một linh hồn đang được hình thành dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đang hoạt động trong Hội Thánh Người, trong các tâm hồn; chính Chúa Thánh Thần, cùng với những xu hướng tốt đó, đã đem lại bình an cho tâm hồn Roncalli.

Giờ đây chúng ta hãy đề cập đến với từ thứ hai và có tính quyết định, đó là từ: "Vâng phục". Cho dù bình an là nét bên ngoài, thì thiên hướng bên trong của Roncalli hệ tại là vâng phục. Quả thế, vâng phục là phương tiện để đạt được bình an.

Trước tiên, nó có một ý nghĩa rất đơn sơ và thực dụng: chu toàn trong Hội Thánh một việc phục vụ mà các bề trên của ngài yêu cầu, bằng cách không hề tìm kiếm bất kỳ điều gì cho bản thân, không trốn tránh bất kỳ điều gì được đòi hỏi, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải rời bỏ quê hương để đối diện với những thế giới mà mình không biết và sống nhiều năm ở những nơi có rất ít người Công Giáo và ở xa nhau. Đó là tinh thần sẵn sàng để được dẫn dắt như một đứa trẻ, tinh thần này đã tôi luyện đời hoạt động của ngài như một linh mục, như các bạn đã biết rất rõ; thư ký của Giám Mục Radini Tedeschi và đồng thời giáo sư và cha linh hướng trong đại chủng viện của giáo phận; Đại Diện Tòa Thánh ở Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Pháp; Thượng Phụ Giáo Chủ Venice và cuối cùng, Giám Mục Rôma. Tuy nhiên, qua sự vâng phục này, Roncalli, trong tư cách linh mục rồi Giám mục, cũng đã sống một sự trung thành sâu xa, mà ta có thể gọi là, như ngài đã từng nói, sự phó thác vào Thiên Chúa Quan Phòng. Ngài luôn nhìn nhận trong đức tin rằng qua lối sống theo cách này, dường như được dẫn dắt bởi người khác chứ không theo sở thích hoặc dựa trên sự nhạy cảm thiêng liêng của chính mình, Thiên Chúa đang phác hoạ một kế hoạch của riêng Người. Ngài là con người quản trị, người lãnh đạo. Nhưng ngài là một nhà lãnh đạo được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, bởi sự vâng phục.

Qua sự phó thác hàng ngày cho thánh ý Chúa, Giáo Hoàng Gioan tương lai đã sống ngày càng sâu xa hơn một cuộc thanh tẩy cho phép ngài hoàn toàn từ bỏ chính mình và bám chặt vào Đức Kitô. Chính theo cách này mà ngài làm cho sự thánh thiện toả sáng, sự thánh thiện mà Hội Thánh sau này đã chính thức nhìn nhận. Đức Giêsu nói với chúng ta: "Bất cứ ai mất mạng sống mình vì thầy thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9, 24) Đây là nguồn mạch đích thực của sự tốt lành của Đức Giáo Hoàng Gioan, của sự bình an mà ngài đã gieo vãi trên khắp thế giới. Chính nơi đây mà cội rễ của sự thánh thiện của ngài được tìm thấy: trong sự vâng phục theo tin mừng của ngài.

Đó là bài học cho mỗi một người chúng ta, nhưng cũng cho Hội Thánh trong thời đại chúng ta: Nếu chúng ta để mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, nếu chúng ta có thể chết đi cho tính ích kỷ để dọn chỗ cho tình yêu Chúa và Thánh ý Người, chúng ta sẽ tìm thấy sự bình an, chúng ta sẽ là những người xây dựng bình an và sẽ lan toả bình an chung quanh chúng ta. Nửa thế kỷ sau cái chết của ngài, sự hướng dẫn khôn ngoan và đầy tình phụ tử của Đức Giáo Hoàng Gioan, tình yêu của ngài đối với truyền thống của Hội Thánh và ý thức về nhu cầu đổi mới không ngừng, trực giác tiên tri khi triệu tập công đồng Vatican II và sự dâng hiến cuộc sống của ngài cho sự thành công của công đồng, có giá trị như là cột mốc trong lịch sử Hội Thánh của thế kỷ hai mươi; và như là ngọn đuốc sáng cho hành trình đi về phía trước.
Video: Thông điệp Phục sinh Urbi et Orbi - Lời Chúc Phục Sinh của VietCatholic
VietCatholic Network20/04/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
Lúc 10h15 sáng Chúa Nhật 20 tháng Tư trước 150,000 tín hữu đứng chật quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã cử hành thánh lễ Phục sinh và đọc thông điệp Phục sinh Urbi et Orbi gởi dân thành Rôma và toàn thế giới. Tiếp theo đó là nghi thức ban phép lành Urbi et Orbi, kèm theo ơn toàn xá cho tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô cũng như những anh chị em tín hữu trên thế giới, theo dõi qua các đài phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông mới trong đó có mạng lưới điện toán toàn cầu miễn là họ giữ các qui tắc và hội đủ các điều kiện luật định, nghĩa là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi.

Trong Thông điệp Phục sinh Đức Thánh Cha nói:

Anh chị em thân mến, Chúc Mừng Phục Sinh!

Giáo Hội trên khắp thế giới vang vọng thông điệp của thiên thần cho những người phụ nữ: “Tôi biết các bà tìm Ðức Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy... Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm” (Mt 28:5-6)

Đây là đỉnh cao của Tin Mừng, đó là Tin Vui tuyệt hảo: Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại! Biến cố này là cơ sở của niềm tin và hy vọng của chúng ta. Nếu Chúa Kitô không sống lại, Kitô giáo sẽ mất đi chính ý nghĩa của nó; toàn bộ sứ mệnh của Giáo Hội sẽ mất hết xung động, đây là điểm khởi đầu và tiếp tục mở ra bất tận những điều mới mẻ. Thông điệp mà các Kitô hữu mang đến cho thế giới này là: Chúa Giêsu, là tình yêu nhập thể, đã chết trên thập tự giá cho tội lỗi của chúng ta, nhưng Chúa Cha đã cho Ngài sống lại và đặt Ngài trở thành Chúa của sự sống và cái chết. Trong Chúa Giêsu, tình yêu đã chiến thắng hận thù, lòng thương xót lướt thắng tội lỗi, sự thiện hảo chiến thắng trên sự dữ, sự thật vượt lên trên dối trá, sự sống đánh bại sự chết.

Đó là lý do tại sao chúng ta nói với mọi người: “Hãy đến và xem” Trong mọi tình huống của con người, ghi dấu bởi sự yếu đuối, tội lỗi và cái chết, Tin Mừng không chỉ đơn thuần là những từ ngữ, nhưng là một chứng tá cho tình yêu vô điều kiện và trung tín: đó là chuyện để lại chính mình phía sau và gặp gỡ những người khác, gần gũi với những người bị chà đạp bởi những vấn nạn trong cuộc đời, chia sẻ với những người nghèo, đứng bên cạnh người bệnh, người già và người bị bỏ rơi. .. “Hãy đến và xem !” Tình yêu là mạnh hơn, tình yêu trao ban cuộc sống, tình yêu làm cho hy vọng nở hoa trong chốn hoang dại.

Với niềm vui chắc chắn này trong tâm hồn, hôm nay chúng con hướng về Ngài, Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh!

Xin Chúa giúp chúng con tìm kiếm Chúa và gặp thấy Chúa, để nhận ra rằng chúng con có một Cha và không phải là những trẻ mồ côi; và chúng con có thể yêu thương và tôn thờ Chúa.

Xin Chúa giúp chúng con vượt qua tai ương đói kém, ngày càng trầm trọng hơn bởi các cuộc xung đột và các lãng phí to lớn mà thường là chúng con phải chịu trách nhiệm.

Xin Chúa cho chúng con có thể bảo vệ những người dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ và người cao tuổi, những người đôi khi bị khai thác và bị bỏ rơi.

Xin Chúa cho chúng con có thể chăm sóc cho anh chị em của chúng con đang gánh chịu trận dịch Ebola ở Guinea Conakry, Sierra Leone và Liberia, và có thể chăm sóc cho những người mắc rất nhiều bệnh khác nữa cũng lây lan bởi sự thờ ơ và nghèo đói cùng cực.

Xin Chúa an ủi tất cả những ai không thể mừng lễ Phục Sinh này với những người thân yêu của họ, vì họ đã bị chia lìa một cách bất công khỏi những tình thân, như nhiều người, linh mục và giáo dân, đã bị bắt cóc ở nhiều miền khác nhau trên thế giới.

Xin Chúa an ủi những người phải bỏ lại sau lưng đất nước của họ để di dân đến những nơi cho họ chút hy vọng về một tương lai tốt hơn và khả năng có thể sống trong phẩm giá và có thể tự do tuyên xưng đức tin của mình.

Chúng con xin Chúa, Lạy Chúa Giêsu, xin chấm dứt tất cả các cuộc chiến tranh và mọi xung đột, lớn nhỏ, cũ mới.

Chúng con cầu nguyện cách đặc biệt cho Syria, xin cho tất cả những người bị ảnh hưởng của cuộc xung đột có thể nhận được viện trợ nhân đạo cần thiết và không một bên nào tái sử dụng vũ lực chết người, đặc biệt là trên những người dân vô phương tự vệ, nhưng thay vào đó là mạnh dạn đàm phán cho nền hòa bình lâu dài đã được mong ngóng quá lâu!

Xin Chúa an ủi các nạn nhân của các hành vi bạo lực huynh đệ tương tàn tại Iraq và nâng đỡ hy vọng vừa loé lên từ việc nối lại các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine.

Chúng con xin Chúa chấm dứt các cuộc xung đột tại nước Cộng hòa Trung Phi và ngưng các cuộc tấn công khủng bố tàn bạo trong các miền tại Nigeria cũng như các hành vi bạo lực ở Nam Sudan.

Chúng con xin lòng trí con người có thể hướng đến hòa giải và hòa hợp huynh đệ tại Venezuela.

Nhờ sự Phục Sinh của Chúa, mà năm nay chúng con cử hành cùng một thời điểm với các Giáo Hội sử dụng lịch Julian, chúng con xin Chúa soi sáng và truyền cảm hứng cho những sáng kiến nhằm thúc đẩy hòa bình ở Ukraine để tất cả những người có liên quan, với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, sẽ đưa ra mọi nỗ lực để ngăn chặn bạo lực và vạch ra một con đường cho tương lai của đất nước trong một tinh thần đoàn kết và đối thoại.

Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho tất cả các dân tộc trên trái đất này: Chúa là Đấng đã chiến thắng sự chết, xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, xin ban cho chúng con bình an của Chúa!

Tiếp theo đó là nghi thức ban phép lành URBI ET ORBI cho Roma và toàn thế giới, kèm theo ơn toàn xá cho tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô cũng như những anh chị em tín hữu trên thế giới, theo dõi qua các đài phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông mới.

Mở đầu nghi thức, Đức Hồng Y trưởng đẳng phó tế, tuyên bố chủ ý của Đức Thánh Cha ban ơn toàn xá cho những người nói trên, miễn là họ giữ các qui tắc và hội đủ các điều kiện luật định, nghĩa là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi.

Đức Thánh Cha đã long trọng đọc lời nguyện xin Thiên Chúa nhân lành, vì lời cầu bầu của Mẹ Maria, của các thánh tông đồ Phêrô, Phaolô và toàn thể các thánh, mà xá giải mọi tội lỗi và hình phạt bởi tội lỗi cho các tín hữu.

Ngài đọc như sau:

Xin các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô là những vị mà chúng tôi dựa vào quyền bính và uy thế, cầu khẩn cho chúng ta trước Thiên Chúa. Amen.

Nhờ lời cầu bầu và công nghiệp của Đức Trinh nữ Maria, của Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, của thánh Gioan Baotixita, của các thánh Tông Đồ Phêrô, Phaolô cùng toàn thể các thánh, xin Thiên Chúa toàn năng thương xót anh chị em và xin Chúa Kitô tha tội cho anh chị em cùng dẫn đưa anh chị em về cõi trường sinh. Amen.

Xin Thiên Chúa toàn năng lân tuất ban ân xá, tha thứ tất cả tội lỗi của anh chị em, cho anh chị em được hưởng thời gian để làm việc đền tội thành tâm và có công hiệu, một tấm lòng thống hối và hoán cải đời sống, được ơn thánh và sự an ủi của Chúa Thánh Thần, cùng được sự kiên trì làm việc thiện cho đến cùng. Amen.

Sau đó, Đức Thánh Cha ban phép lành kèm ơn toàn xá.
Video: Phóng Sự Thứ Bẩy Tuần Thánh tại Vatican và Jerusalem
VietCatholic Network20/04/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
Lúc 7h30 sáng thứ Bẩy 30 tháng Ba, Đức Tổng Giám Mục Fouad Twal là Thượng Phụ Công Giáo Nghi Lễ Giêrusalem đã cử hành thánh lễ Vọng Phục sinh tại đền thờ Chúa Phục sinh.

Vâng thưa quý vị và anh chị em, Thánh Lễ Vọng Phục Sinh tại Đền Thờ Chúa Phục Sinh, diễn ra vào sáng Thứ Bảy Tuần Thánh lúc 7h30 SÁNG. Sáng thứ Bẩy chứ không phải tối thứ Bẩy, nghĩa là không thống nhất với phần còn lại của Giáo Hội. Việc cử hành sớm như thế là để chắc chắn rằng Giáo Hội Mẹ tại Giê-ru-sa-lem luôn là người đầu tiên công bố Tin Mừng Phục Sinh trong bài Vinh Tụng Ca hát mừng chiến thắng của Chúa Kitô trên sự chết và tội lỗi.

Cùng đồng tế với ngài có Đức Giám Mục William Shomali, và Đức Giám Mục Kamal Batish là Giám Mục phụ tá của Tòa Thượng Phụ Latinh, và Đức Giám Mục Giacinto Boulos Marcuzzo, Giám Mục phụ tá của Nazareth và hơn 250 linh mục.

Cùng đồng tế trong thánh lễ còn có khâm sứ Tòa Thánh tại Israel, là Đức Cha Giuseppe Lazzarotto, và sứ thần Tòa Thánh tại Jordan, là Đức Cha Giorgio Lingua.

Đức Thượng Phụ đã làm phép lửa và nến Phục sinh tại ngôi mộ trống.

Sau các bài đọc chuông nhà thờ đã được kéo rộn rã trong khi cộng đoàn cùng hát Kinh Vinh Danh.

Tin Mừng Phục sinh cũng đã được tuyên đọc trước ngôi mộ trống.

Kết lễ, cộng đoàn đã hát vang bài Alleluia và vỗ tay chúc mừng Phục sinh cho các vị trong đoàn đồng tế.

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Trong khi đó tại Vatican, lúc 8h30 tối Thứ Bảy Tuần Thánh, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã dẫn đầu một đoàn rước bên trong Đền thờ Thánh Phêrô. Cuộc rước sẽ diễn ra trong bóng tối, chỉ được chiếu sáng bởi một cây nến tại bàn thờ.

Giảng trong thánh lễ Vọng Phục Sinh Đức Thánh Cha nói:

Tin Mừng về sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô bắt đầu với hành trình của những người phụ nữ đến mộ vào lúc bình minh vào ngày kế tiếp ngày Sa-bát. Họ đi đến ngôi mộ để chăm sóc cho thi hài của Chúa, nhưng họ nhận thấy ngôi mộ đã mở toang ra và trống rỗng. Một thiên thần oai vệ nói với họ: "Đừng sợ !" (Mt 28:5 ) và truyền cho họ hãy đi và nói với các môn đệ rằng "Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Galilê trước các ông." ( câu 7). Những người phụ nữ vội vã lên đường và trên đường đi Chúa Giêsu đã gặp họ. Ngài nói: "Đừng sợ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó" (câu 10).

Sau cái chết của Thầy, các môn đệ đã tản mác; đức tin của họ đã bị lung lay hoàn toàn, tất cả mọi thứ dường như đã kết thúc, tất cả những xác tín của họ đã sụp đổ và hy vọng của họ đã chết. Nhưng giờ đây thông điệp của những người phụ nữ, tự nó là không thể tin được, đến với họ như một tia sáng trong bóng tối. Tin tức loan đi: Chúa Giêsu đã sống lại như Ngài đã phán. Và sau đó có cả lệnh truyền của Ngài hãy đi Galilê. Những người phụ nữ đã nghe lệnh truyền này hai lần, lần đầu tiên từ thiên thần và sau đó từ chính Chúa Giêsu: "báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó ".

Galilê là nơi mà các tông đồ lần đầu tiên gặp Chúa, nơi mà mọi thứ bắt đầu! Trở lại đó, tức là quay trở lại nơi mà họ được kêu gọi ban đầu. Chúa Giêsu đã đi bộ dọc theo bờ hồ trong khi những ngư phủ này đang thả lưới. Ngài đã kêu gọi họ, và họ đã bỏ mọi sự mà theo Người (x. Mt 4:18-22 ).

Trở về Galilê có nghĩa là đọc lại tất cả mọi thứ trên cơ sở của thánh giá và vinh quang của thánh giá. Đọc lại tất cả mọi thứ - những lời rao giảng của Chúa, các phép lạ của Ngài, cộng đoàn mới, những phấn khích và đào tẩu, ngay cả sự phản bội - đọc lại tất cả mọi thứ bắt đầu từ cái sau cùng, dưới ánh sáng của hành động là tuyệt đỉnh của tình yêu. Đó là một khởi đầu mới.

Đối với mỗi người chúng ta cũng có một "Galilê" là nguồn gốc cuộc hành trình của chúng ta với Chúa Giêsu. "Đi đến Galilê " có nghĩa là một cái gì đó rất đẹp, nó có nghĩa là tái khám phá bí tích rửa tội của chúng ta như một suối nguồn sự sống, là kín múc năng lượng mới từ nguồn mạch đức tin và kinh nghiệm Kitô của chúng ta. Trở về Galilê trên tất cả có nghĩa là trở về với ngọn lửa mà ân sủng của Thiên Chúa đã chạm vào tôi lúc bắt đầu cuộc hành trình với Ngài. Từ ngọn lửa đó tôi có thể đốt lên ngọn lửa cho ngày hôm nay và cho mỗi ngày, và mang lại sức nóng và ánh sáng cho anh chị em của tôi. Ngọn lửa này loé lên một niềm vui khiêm nhường, một niềm vui mà u sầu và đau khổ không thể làm mất tinh thần, một niềm vui tốt lành và nhẹ nhàng.

Trong đời sống của mỗi Kitô hữu, sau phép rửa tội cũng có là một “Galilê” hiện sinh hơn: đó là kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu Kitô Đấng đã gọi tôi theo Ngài và chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Theo nghĩa đó, trở về Galilê là lưu giữ trong trái tim tôi ký ức sống động về lời mời gọi, khi Chúa Giêsu đi ngang qua tôi, nhìn tôi chăm chú với lòng thương xót và gọi tôi theo Ngài. Nó có nghĩa là làm sống lại ký ức về thời điểm khi mắt Ngài gặp gỡ mắt tôi, thời điểm khi Ngài làm tôi nhận ra rằng Ngài yêu thương tôi.

Hôm nay, tối nay, mỗi người chúng ta có thể hỏi: Galilê của tôi là gì ? Galilê của tôi ở đâu? Tôi có nhớ nó không? Hay tôi đã quên nó rồi? Hay tôi đã đi chệch khỏi những con đường cho nên tôi đã quên nó? Lạy Chúa, xin giúp con: cho con biết Galilê của con ở đâu; vì Chúa muốn con trở lại đó gặp Chúa và để cho con được ôm ấp bởi lòng thương xót Chúa.

Tin Mừng Phục Sinh rất rõ ràng: chúng ta cần phải trở lại đó, để thấy Chúa Giêsu phục sinh, và trở thành chứng nhân phục sinh của Người. Điều này không phải là đi ngược thời gian; nó không phải là một loại hoài niệm quá khứ. Nó là trở lại với mối tình đầu của chúng ta với Chúa, để nhận được ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã nhen nhóm trong thế giới này và mang ngọn lửa ấy đến cho tất cả mọi người, khắp cùng bờ cõi trái đất.

"Galilê của dân ngoại" (Mt 4:15; Is 08:23 ) ! Chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; mong muốn mãnh liệt của cuộc gặp gỡ. .. Nào chúng ta hãy lên đường! "
Video: Chặng Đàng Thánh Giá do ĐGH Phanxicô chủ sự Thứ Sáu Tuần Thánh 2014
VietCatholic Network20/04/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
Văn phòng các cử hành Phụng Vụ của Đức Giáo Hoàng
Chặng Đàng Thánh Giá do Đức Giáo Hoàng Phanxicô chủ sự

Rôma ngày 18 tháng Tư

Diện mạo của Thiên Chúa
Diện mạo của con người


Dẫn Nhập

Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.

Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Ðấng họ đã đâm thâu. (Ga 19:35-37).


Lạy Chúa Giêsu chí ái,
Chúa đã bước lên đồi Golgotha không chút do dự, trong một tình yêu tuyệt đối,
và để cho mình bị đóng đinh mà không phàn nàn trách móc.
Lạy Người Con khiêm nhu của Mẹ Maria,
Chúa kề vai gánh lấy đêm đen của chúng con
để cho chúng con thấy ánh sáng bao la
mà Chúa muốn đong đầy trái tim chúng con.
Nơi sự đau khổ của Chúa là ơn cứu độ chúng con
trong nước mắt Chúa, chúng con thấy "giờ khắc"
mà tình yêu đầy ân sủng của Thiên Chúa được tỏ lộ.
Trong hơi thở cuối cùng của Chúa, như một phàm nhân,
Chúa dẫn chúng con quay về với trái tim của Cha, với bảy lần tha thứ,
và Chúa chỉ cho chúng con, trong những lời cuối cùng của mình,
con đường dẫn đến sự giải thoát mọi buồn sầu của chúng con.
Lạy Chúa, Đấng là Tất Cả đã Nhập Thể, đã tự trút bỏ ra hư không trên thập tự giá,
đến mức chỉ còn một người hiểu được là Mẹ,
người đứng trung thành dưới thập giá dành cho tội nhân.
Cái khát của Chúa là suối nguồn hy vọng,
bàn tay chìa ra cho cả người trộm có lòng ăn năn,
là người ngày nay nhờ Chúa, đã được vào thiên đường.

Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh
Xin ban cho tất cả chúng con, lòng thương xót vô hạn của Chúa,
một hương thơm Bethany trên thế giới,
một tiếng kêu của cuộc sống cho tất cả nhân loại.
Và cuối cùng, khi chúng con phó mình trong tay Cha,
xin mở cho chúng con những cánh cửa của Cuộc Sống muôn đời! Amen.

1. Chặng thứ Nhất
Chúa Giêsu bị kết án tử hình
Những ngón tay chỉ trỏ buộc tội


Philatô muốn thả Ðức Giêsu, nên lại lên tiếng một lần nữa. Nhưng họ cứ một mực la lớn: "Ðóng đinh! Ðóng đinh nó vào thập gía!" Lần thứ ba, ông Philatô nói với họ: "Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra". Nhưng họ cứ la to hơn, nhất định đòi phải đóng đinh Người. Và tiếng la càng thêm dữ dội.

Và ông Philatô phán quyết chấp thuận điều họ yêu cầu. Ông phóng thích người tù họ xin tha, tức là tên bị tống ngục vì tội bạo động và giết người. Còn Ðức Giêsu thì ông trao nộp theo ý họ muốn. (Lk 23:21-25).


Philatô, kẻ nhút nhát và sợ sự thật, cùng với những ngón tay chỉ trỏ buộc tội, và những tiếng kêu la càng lúc càng ồn ào của đám đông giận dữ: đó là những giai đoạn đầu tiên trong cái chết của Chúa Giêsu. Ngây thơ, giống như chiên con, bị sát tế lấy máu cứu dân Người. Chúa Giêsu, Đấng đi giữa chúng ta mang lại ơn chữa lành và ân sủng của Thiên Chúa, giờ đây bị kết án tử hình. Không một lời tri ân nào được thốt lên từ đám đông đang chọn Baraba thay vì chọn Ngài. Về phần Philatô, phiên tòa này là một sự sỉ nhục. Ông ta trao Ngài cho đám đông và rửa tay mình. Chỉ biết lo lắng cho quyền uy của mình, ông ta trao Chúa Giêsu cho người ta đưa đi đóng đinh. Ông không muốn biết gì hơn về Chúa Giêsu. Đối với Philatô, phiên tòa đã chấm dứt, hồ sơ đã đóng lại.

Việc lên án Chúa Giêsu vội vàng như vậy, với cơ man những cáo buộc dễ dàng, với bao nhiêu những phán xét hời hợt của đám đông mà lòng dạ họ đã chai cứng đi vì những lo sợ bóng gió và những định kiến hình thành nên một nền văn hóa phân biệt chủng tộc và loại trừ, một nền văn hóa của những thư nặc danh và những trò xuyên tạc bỉ ổi. Một khi chúng ta bị cáo buộc, tên của chúng ta ngay lập tức xuất hiện trên trang nhất những tờ báo; nhưng khi chúng ta được tuyên bố trắng án, tin tức được đăng nơi cột cuối cùng!

Còn chính chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có hay không một lương tâm trong sáng, ngay thẳng và có trách nhiệm, một lương tâm không bao giờ bỏ rơi những người vô tội nhưng can đảm đứng về phiá người yếu thế, chống lại bất công và bảo vệ sự thật bất cứ khi nào nó bị vi phạm?

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Trong cõi đời này có những bàn tay chìa ra hỗ trợ và có cả những bàn tay ký những bản án oan sai.
Xin ban cho chúng con, khi được nâng đỡ bởi ơn Chúa, đừng gạt bỏ ai sang một bên.
Xin cứu chúng con khỏi những xuyên tạc và những lời dối trá.
Giúp chúng con luôn luôn tìm kiếm sự thật của Chúa,
đứng về phía người yếu thế,
và đồng hành với họ.
Xin Chúa soi sáng cho tất cả những ai được bổ nhiệm làm thẩm phán tại các tòa án của chúng con để họ có thể luôn luôn đưa ra những bản án công bằng và đúng sự thật. Amen.

2. Chặng thứ Hai
Chúa Giêsu vác thánh giá
Gỗ nặng của thập giá


Tội lỗi của chúng ta, chính người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em được chữa lành. Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Ðấng chăm sóc linh hồn anh em. (1 Pr 2:24-25).

Gỗ thánh giá nặng nề, vì trên đó Chúa Giêsu gánh lấy tội lỗi của tất cả chúng ta. Ngài lảo đảo với một gánh quá nặng đối với một người (Ga 19:17).

Gỗ thánh giá cũng là gánh nặng của tất cả những sai lầm đã tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế và hậu quả xã hội nghiêm trọng: công ăn việc làm bấp bênh, thất nghiệp, sa thải, một nền kinh tế thống trị chứ không phải là phục vụ, đầu cơ tài chính, các chủ doanh nghiệp tự sát, nạn tham nhũng và cho vay nặng lãi, công nghiệp địa phương chết dần chết mòn.

Đây là thập giá đè nặng trên giới thợ thuyền, là bất công đè lên vai người lao động. Chúa Giêsu tự mình vác lấy và dạy chúng ta phải chống lại bất công và với sự giúp đỡ của Ngài hãy học cách xây dựng những nhịp cầu của tình liên đới và của hy vọng, nếu không chúng ta cũng chỉ như những con chiên lạc lối trong bối cảnh cuộc khủng hoảng này.

Chúng ta hãy quay lại với Chúa Kitô, là người mục tử và người giám hộ linh hồn chúng ta. Chúng ta hãy phấn đấu, sát cánh với nhau, cung cấp công ăn việc làm, để vượt qua những sợ hãi và sự cô lập, để phục hồi một sự tôn trọng đối với đời sống chính trị và cùng nhau giải quyết các vấn nạn của chúng ta.

Thánh giá sẽ trở nên nhẹ hơn nếu chúng ta cùng vác với Chúa Giêsu, và nếu tất cả chúng ta cùng nhau nhấc nó lên, vì “nhờ những vết thương - mà nay mở tung những cửa sổ tâm hồn chúng ta - mà chúng ta được chữa lành.”(x. 1 Pr 2:24).

Lời Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
đêm đen của chúng con càng ngày càng tối!
Nghèo đói gia tăng và trở nên cùng cực.
Chúng con không có bánh cho con em của chúng con và mẻ lưới của chúng con chẳng thu được gì.
Tương lai của chúng con bất định.
Xin cho chúng con có công ăn việc làm.
Xin thức tỉnh trong chúng con lòng khát khao cháy bỏng cho công lý,
để cuộc sống của chúng con không thường xuyên là một gánh nặng nhưng là một cuộc sống đúng phẩm giá! Amen.

3. Chặng thứ Ba
Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất
Sự yếu đuối đang mở ra cho chúng ta sự cởi mở đón tiếp


Sự thật là chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng Người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. (Is 53,4-5).

Đó là một Đức Giêsu yếu đuối, mong manh, rất là phàm nhân, Đấng mà chúng ta kinh ngạc chiêm ngắm trong chặng rất đau thương này. Nhưng chính cái ngã của Chúa càng tỏ lộ tình thương vô biên của Ngài. Ngài bị đám đông chen lấn, bị điếc tai vì những tiếng la của binh sĩ, bị sưng phồng vì những vết thương đánh đòn, đầy cay đắng trong lòng vì những chiều sâu vô ơn của loài người. Và thế là Ngài ngã xuống đất!

Nhưng trong cái ngã xóng xoài dưới sức nặng của thập giá và nhọc mệt, Chúa Giêsu một lần nữa trở thành Thầy dạy Sự Sống. Ngài dạy chúng ta chấp nhận sự dòn mỏng yếu đuối của mình, đừng nản chí vì những thất bại của chúng ta, hãy chân thành nhìn nhận những giới hạn của mình. Thánh Phaolô đã nói:

“Trong tôi có ước muốn làm điều thiện nhưng tôi lại không có khả năng thực hiện ước muốn ấy” (Rm 7,18).

Với sức mạnh nội tâm đến từ Chúa Cha, Chúa Giêsu giúp chúng ta đón nhận những thất bại của người khác; thương xót người bị ngã, không dửng dưng với những ai đang kêu cứu. Và Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để không khép kín đối với người gõ cửa nhà chúng ta, xin tị nạn, xin phẩm giá và một tổ quốc. Ý thức về sự mong manh của chúng ta, chúng ta sẽ đón nhận sự mong manh nơi những người di dân, để họ tìm được an ninh và hy vọng.

Thực vậy, chính trong chậu nước dơ tại nhà Tiệc Ly, nghĩa là trong sự dòn mỏng yếu đuối của chúng ta, đã ánh lên thiên nhan đích thực của Thiên Chúa chúng ta! Vì “thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng đã đến và hoá thành phàm nhân, thì thần khí ấy ắt phải đến từ Thiên Chúa” (1 Ga 4,2)

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa hạ mình để cứu chuộc những dòn mỏng yếu đuối của chúng con.
Xin giúp chúng con tiến vào vào mối tương giao chân chính
với những người nghèo nhất trong anh chị em chúng con.
Xin nhổ tận gốc khỏi con tim của chúng con sự sợ hãi, niềm tự mãn và sự thờ ơ,
là những điều ngăn cản chúng con nhìn thấy Chúa trong những người nhập cư,
là những điều ngăn cản chúng con tuyên xưng rằng Giáo Hội của Chúa không có biên giới, vì Giáo Hội thật sự là mẹ của tất cả! Amen.

4. Chặng thứ Tư
Chúa Giêsu gặp Đức Mẹ
Những giọt lệ của tình liên đới


“Ông Simeon chúc phúc cho hai ông bà và nói với Maria, Mẹ Ngài: 'Này đây, Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người ở Israel bị vấp ngã hay được chỗi dậy và về phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua tâm hồn Bà' (Lc 2,34-35).

“Anh chị em hãy rơi lệ với người đang khóc. Hãy có cùng những tâm tình như vậy đối với nhau” (Rm 12,15-16)


Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với Mẹ Ngài đầy xúc động và nước mắt. Nó biểu lộ sức mạnh vô địch của tình mẫu tử vượt lên trên mọi chướng ngại và biết mở mọi con đường. Nhưng cái nhìn liên đới của Mẹ Maria càng sinh động hơn nữa, cái nhìn chia sẻ và mang lại sức mạnh cho Con Mẹ. Và như thế, tâm hồn chúng ta đầy kinh ngạc khi chiêm ngắm sự cao cả của Mẹ Maria, dù chỉ là thụ tạo, đã trở nên ‘láng giềng’ với Thiên Chúa và là Chúa của Mẹ.

Cái nhìn của Mẹ thu tóm tất cả mọi nước mắt của các bà mẹ đối với những người con xa xăm, đối với những người trẻ bị kết án tử hình, bị giết hại hoặc bị đẩy ra chiến trường, nhất là những binh sĩ trẻ em. Chúng ta nghe thấy tiếng kêu xé lòng của những bà mẹ vì con mình đang chết dần vì những thứ bệnh ung thư do việc đốt những đồ phế thải độc hại gây ra.

Những dòng lệ cay đắng dường nào! Những dòng lệ liên đới với những đau khổ của con cái! Những bà mẹ canh thức đêm khuya dưới ngọn đèn sáng, hồi hộp vì những người trẻ đang trong tình trạng bấp bênh hay đang bị sa đà vào ma túy và rượu, nhất là những đêm thứ Bẩy!

Bên Mẹ Maria, chúng ta sẽ không bao giờ là một dân tộc của những trẻ mồ côi! Như với thánh Juan Diego, Mẹ Maria cũng mơn trớn và an ủi chúng ta như những người con và nói với chúng ta rằng: “Tâm hồn các con đừng xao xuyến. Mẹ là mẹ con, chẳng ở đây sao?” (Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm. 286).

Lời Nguyện
Kính mừng Maria, Mẹ thân yêu,
xin Mẹ ban phép lành cho con.
Xin chúc phúc cho con và gia đình con.
Con dâng lên Chúa tất cả những gì con làm, những gì con chịu hôm nay, trong sự hiệp nhất với những đau khổ của Mẹ và Con rất thánh của Mẹ.
Con dâng lên Mẹ bản thân con và tất cả những gì con có, đặt mọi sự dưới lớp áo của Mẹ.
Lạy Mẹ là Mẹ con, xin tẩy sạch tâm hồn và thân xác con và xin cho ngày hôm nay
con sẽ không làm gì phật lòng Thiên Chúa.
Con khẩn xin điều này nhờ sự Vô Nhiễm Nguyên Tội và sự vẹn tuyền trinh nguyên của Mẹ. Amen (Thánh Gaspare Bertoni)

5. Chặng thứ Năm
Ông Simon vác đỡ thánh giá Chúa
Bàn tay thân hữu đỡ nâng


“Họ bắt một người qua đường vác đỡ thập giá cho Người. Ông tên là Simon người xứ Xirênê, thân phụ của Alessandro và Rufo” (Mc 15,21)

Tình cờ, ông Simon Xirênê đi qua đó. Nhưng điều này trở thành một thời khắc quyết định trong cuộc đời của ông. Ông từ ngoài đồng trở về. Một người lao động lam lũ và khỏe mạnh. Vì thế, ông bị buộc vác thập giá của Chúa Giêsu, người bị kết án tử hình ô nhục (Xc Pl 2:8).

Nhưng cuộc gặp gỡ tình cờ này dẫn đến một quyết định đổi đời để đi theo Chúa Giêsu, vác lấy thập giá mỗi ngày, và từ bỏ chính mình (Xc Mt 16,24-25). Thánh Marcô bảo với chúng ta rằng ông Simon là thân phụ của hai tín hữu Kitô được biết đến trong cộng đoàn Roma là Alessandro và Rufo. Một người cha chắc chắn đã in dấu trong tâm hồn các con sức mạnh của thập giá Chúa Giêsu. Cuộc sống, nếu bạn bám víu vào nó quá, thì nó sẽ thoái hóa và trở thành tro bụi. Nhưng nếu bạn cho nó đi, thì sự sống sẽ tươi nở và sinh đầy hoa trái cho bạn và cho toàn thể cộng đoàn!

Đây chính là bí quyết thực sự chữa trị tính ích kỷ vẫn luôn rình mò chúng ta. Tương quan với người khác chữa lành chúng ta và sinh ra tình huynh đệ huyền nhiệm, chiêm niệm, biết nhìn đến sự cao cả thánh thiêng của tha nhân, biết khám phá Thiên Chúa trong mọi người, biết chịu đựng những phiền toái trong cuộc sống, và biết bám chặt vào tình yêu của Thiên Chúa. Chỉ khi chúng ta mở rộng con tim cho tình yêu Chúa, chúng ta mới được thúc đẩy tìm kiếm hạnh phúc cho tha nhân qua bao nhiêu cử chỉ thiện nguyện: một đêm ở nhà thương, cho mượn mà không đòi lãi cao, một dòng nước mắt được lau khô trong gia đình, sự quảng đại chân thành, việc sử dụng công ích một cách sáng suốt, chia sẻ cơm bánh và công ăn việc làm, và khước từ mọi hình thức ghen tương.

Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng: “Những gì anh em làm cho những kẻ bé mọn này, là anh em làm cho ta” (Mt 25:40).

Lời Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, tại Xirênê, người bạn này đánh động con tim Giáo Hội, là nơi trú ẩn của tình yêu dành cho tất cả những ai khao khát Chúa.
Giúp đỡ anh chị em chúng con là chìa khóa cánh cửa sự Sống.
Cầu xin cho những ích kỷ không khiến chúng con ngoảnh mặt không nhìn đến tha nhân, nhưng xin giúp chúng con tuôn đổ dầu ủi an trên những vết thương của họ, và do đó trở thành một người bạn đồng hành trung tín, bền đỗ không mệt mỏi trong dấn thân của chúng con cho tình huynh đệ. Amen.

6. Chặng thứ Sáu
Bà Vêrônica lau mặt Chúa
Tình yêu dịu dàng của người phụ nữ


“Tim con lập lại lời mời của Chúa: Hãy tìm kiếm nhan thánh Ta!”. Lạy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài. Xin Ngài đừng ẩn mặt, đừng giận mà ruồng rẫy tôi tớ Ngài. Chúa là Đấng phù trợ con, xin đừng bỏ con, đừng xua đuổi con, lạy Thiên Chúa Đấng cứu độ con” (Tv 27,8-9).

Chúa Giêsu lê bước, thở hổn hển. Nhưng ánh quang rạng ngời trên khuôn mặt Ngài vẫn nguyên vẹn. Những vết khạc nhổ và những cái tát không làm lu mờ vẻ đẹp của Ngài. Khuôn mặt Ngài như bụi gai cháy đỏ, khi càng bị xúc phạm, thì càng chiếu tỏ ánh sáng cứu độ. Những dòng lệ âm thầm chảy xuống từ đôi mắt của Thầy. Ngài mang lấy gánh nặng bị bỏ rơi. Nhưng Chúa Giêsu vẫn tiến bước, không dừng lại, không ngoái nhìn đàng sau. Ngài đối diện với đau thương. Ngài bị giao động vì sự tàn ác, nhưng Ngài biết rằng cái chết của Ngài không phải là uổng công vô ích.

Bấy giờ Chúa Giêsu dừng lại trước một phụ nữ đến gặp Ngài không chút do dự. Đó là bà Veronia, một hình ảnh của sự dịu hiền phụ nữ đích thực!

Ở đây Chúa là hiện thân nhu cầu của chúng ta mong có được sự yêu thương nhưng không, cảm thấy được yêu mến và được bảo vệ nhờ những cử chỉ ân cần săn sóc. Những săn sóc an ủi của người phụ nữ ấy thật quí giá đối với Chúa Giêsu và dường như cất đi những hành vi xúc phạm mà Ngài đã chịu trong những giờ tra tấn ấy. Bà Veronica đã làm rung động được Chúa Giêsu dịu dàng, cảm nhận được chút gì trong ánh quang của Ngài, không những để thoa dịu nhưng còn để dự phần vào sự đau khổ của Ngài. Trong Chúa Giêsu, bà nhìn thấy những người láng giềng đang cần đến sự an ủi dịu dàng của chúng ta, và tiến đến để lắng nghe tiếng rên xiết đau thương của những người ngày nay là những ai chẳng nhận được sự giúp đỡ cụ thể cũng chẳng có chút hơi ấm nào của tình người, những người chết trong cô đơn.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, thật nặng nề ngần nào, khi chúng con bị tách biệt khỏi tất cả những ai chúng con nghĩ rằng lẽ ra phải đứng bên cạnh chúng con vào ngày bất hạnh của mình!
Xin bọc chúng con trong vải vấy máu cực trọng của Chúa đổ ra dọc theo con con đường của bỏ rơi, mà Chúa phải chịu đựng bất công.
Nếu không có Chúa, chúng con chẳng có, cũng chẳng cho đi một chút ủi an nào. Amen.

7. Chặng thứ Bẩy
Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai
Nỗi thống khổ của ngục tù và tra tấn


Chúng bủa vây tôi.. Chúng bao quanh tôi như bầy ong, chúng như lửa bụi gai cháy bừng bừng, nhờ Danh Chúa tôi đã trừ diệt chúng. Chúng đã xô đẩy tôi, xô thật mạnh cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Sửa phạt tôi, vâng Chúa sửa phạt tôi, nhưng không nỡ để tôi phải chết. (Tv 118, 11.12 - 13.18)

Quả thật, nơi Chúa Giêsu chúng ta đã thấy sự hiện thực của những lời tiên tri cổ xưa về Người Đầy Tớ khiêm hạ và vâng phục, là Người đã mang trên vai toàn bộ lịch sử thương đau của loài người chúng ta. Và như thế, Chúa Giêsu, bị xô đẩy thô bạo, té ngã vì mệt nhọc và hành hạ, bị bạo lực vây bủa tứ bề, không còn sức chịu đựng nữa. Ngài càng cô đơn hơn, càng chìm sâu trong đen tối hơn! Tan da nát thịt, xương cốt mỏi mòn!

Chúng ta nhận ra trong Người kinh nghiệm đắng cay của những ai chịu giam cầm trong ngục tù, với tất cả những trái ngược vô nhân. Bị vây bủa, bị xô đẩy tàn bạo cho té ngã. Nhà tù ngày nay vẫn còn bị tách biệt, bị quên lãng, bị xã hội dân sự bỏ rơi và khét tiếng với bao nhiêu những ác mộng của bộ máy hành chánh, của bao nhiêu những chậm trễ của công lý. Bản án bị nhân lên gấp đôi bởi những nhà tù đông nghẹt: sự trừng phạt trầm trọng hơn, sự đàn áp bất công, làm hao mòn xương thịt. Quá nhiều người, không thể chịu đựng nổi.. Và ngay cả khi một người anh chị em của chúng ta được ra khỏi ngục tù, chúng ta vẫn xem họ là “cựu tù nhân từng bị kết án”, và như thế, khép kín cánh cửa giúp họ tìm lại phẩm giá trước mặt xã hội và hội nhập thế giới lao động.. Nhưng trầm trọng hơn cả là hiện tượng tra tấn vẫn còn quá thịnh hành tại nhiều nơi trên trái đất, dưới mọi hình thức. Cũng như trong trường hợp Chúa Giêsu: chính Ngài đã bị đánh đập, bị đám quan binh chế diễu nhạo cười, tra tấn hành hạ với chiếc mão gai, roi đòn tàn nhẫn.

Ngày nay, khi chúng ta suy niệm về cái té ngã lần thứ hai của Chúa Giêsu, chúng ta thấy đúng làm sao câu nói của Ngài đã từng vang lên: “Ta bị tù và các ngươi đã đến thăm Ta.” (Mt 25,26) Trong mọi nhà tù, bên cạnh những người bị tra tấn, đều có Người, Đức Kitô đau khổ, bị giam cầm và hành hạ. Ngay cả trong đau khổ tột cùng, Ngài giúp ta đừng chiều theo nỗi sợ. Chỉ với sự trợ giúp này những ai đã té mới gượng dậy được trên đôi chân mình với sự giúp đỡ của các chuyên viên, của những bàn tay huynh đệ của những thiện nguyện viên trước một xã hội dân sự phải chịu trách nhiệm về bao nhiêu những bất công bên trong những bức tường nhà giam.

Lời Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, lòng con bồi hồi khi thấy Chúa ngã xuống vì con.
Con chẳng có công đức gì, đầy tội lỗi, mâu thuẫn và thất bại nhưng Chúa đáp lại với một tình yêu vô biên!
Bị xã hội ruồng bỏ, bị kết án tử Chúa còn chúc phúc cho chúng con muôn đời.
Phúc cho chúng con nếu hôm nay chúng con hiệp cùng Chúa trong cái té ngã này và tránh xa hành vi kết án tha nhân.
Xin giúp chúng con đừng chạy trốn trách nhiệm.
Xin cho chúng con biết nương náu nơi sự khiêm hạ của Chúa, tránh xa những kiêu căng giả trá và được tái sinh trong cuộc sống mới như những tạo vật dành cho nước trời. Amen

8. Chặng thứ Tám
Chúa Giêsu an ủi dân thành Giêrusalem
Liên đới và cảm thông


Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu mình mà chớ. (Lc 23, 28)

Như những ngọn đuốc cháy sáng, chúng ta thấy xuất hiện những phụ nữ đứng dọc theo con đường khổ nạn. Những người phụ nữ trung thành và can đảm này không sợ hãi vì bọn lính hay kích động vì những vết thương của Thầy nhân lành. Họ sẵn sàng gặp gỡ và ủi an Người. Chúa Giêsu đứng đó, trước mặt họ. Có những người chà đạp Chúa khi Người ngã gục mỏi mòn trên mặt đất. Nhưng các phụ nữ đứng đó, sẵn sàng dâng tặng Chúa sự nồng ấm của những con tim yêu thương. Các bà đã đứng nhìn Người từ xa, nhưng rồi cố tiến đến gần, như mỗi người bạn, mỗi người anh chị em đều làm khi thấy người mình yêu mến đang gặp khó khăn.

Chúa Giêsu xúc động vì tiếng khóc đắng cay của họ, nhưng mời gọi họ đừng tan nát con tim khi thấy Chúa bị hành hạ đọa đày, hãy đừng là những phụ nữ khóc lóc thở than nhưng hãy trở thành những phụ nữ của đức tin. Người kêu mời một tình liên đới trước khổ đau chứ không muốn một lòng thương hại cằn cỗi và đẫm nước mắt. Đừng than van khóc lóc, nhưng quyết tâm tái sinh, nhìn thẳng về đàng trước, tiến bước với tràn đầy lòng tin và hy vọng hướng về rạng đông chan hòa ánh sáng trên đầu những ai đang trên đường hướng về Chúa. Chúng ta hãy khóc cho chính mình nếu chúng ta còn chưa tin vào Đức Giêsu, Đấng đã loan báo với chúng ta Vương Quốc Cứu chuộc. Chúng ta hãy khóc cho những tội lỗi chưa xưng thú của chính chúng ta.

Và còn nữa, chúng ta hãy khóc cho những người nam chỉ biết trút mọi bạo lực chứa đựng trong lòng trên những phụ nữ. Chúng ta hãy khóc cho những phụ nữ nô lệ của sự sợ hãi và lạm dụng. Tuy nhiên, đấm ngực than van và thương hại thôi thì chưa đủ. Chúa Giêsu đòi hỏi nhiều hơn nữa. Người đòi hỏi phải trấn an các phụ nữ như Chúa đã làm, phải yêu thương họ như một món quà không thể xúc phạm đến của toàn thể nhân loại để con cái chúng ta có thể lớn lên trong phẩm giá và hy vọng.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin chặn lại bàn tay của những kẻ tấn công phụ nữ!
Xin nâng đỡ trái tim của những người phụ nữ đang trong vực thẳm của tuyệt vọng khi họ là nạn nhân của bạo lực.
Xin nhìn đến những giọt lệ cô đơn và bị bỏ rơi của họ, và mở rộng trái tim của chúng con để chia sẻ mọi nỗi buồn đầy đủ và thành tâm, vượt lên và vượt xa lòng trắc ẩn.
Xin biến chúng con thành phương tiện cho tự do thực sự. Amen.

9. Chặng thứ Chín
Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ ba
Hãy bỏ lại sau lưng những luyến tiếc não nùng


Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta. (Rm 8:35-37)

Thánh Phaolô liệt kê những thử thách của mình, nhưng biết rõ là trước thánh nhân, Chúa Giêsu đã từng trải qua những thử thách ấy; trên đường lên Núi Sọ, Chúa đã té ngã một, rồi hai rồi ba lần. Tan nát bởi những hành hạ, bách hại, bởi gươm đao, bị gỗ thánh giá đè bẹp. Kiệt quệ! Dường như Chúa thốt lên, như chúng ta trong những lúc tối tăm u ám: Tôi không còn chịu nổi nữa! Đó là tiếng kêu của những kẻ bị đàn áp bách hại, của người hấp hối, của các bệnh nhân cuối đời, của những ai đang bị gánh nặng đè bẹp.

Nhưng trong Chúa Giêsu, chúng ta cũng thấy rõ sức mạnh của Người: “Có làm khổ, Người cũng xót thương.” Chúa cho chúng ta thấy rằng trong đau khổ, luôn luôn có lòng Chúa xót thương, vượt lên trên mọi đau khổ và loé lên tia hy vọng. Cũng như Chúa Cha khôn ngoan tỉa bớt những nhánh để cây sinh trái lành (Gv 15,8). Không bao giờ Người tỉa để chặt bỏ cây, nhưng để cây đơm hoa kết trái tốt lành hơn. Hay như một sản phụ sắp đến giờ sinh con: bà đau đớn, rên rỉ, quằn quại khi sinh. Nhưng bà biết rằng đó là những cơn đau của sự sống mới, của một mùa xuân nở đầy hoa chính nhờ việc tỉa cành ấy.
Xin cho sự chiêm ngắm hình ảnh Chúa ngã gục, nhưng rồi lại chỗi dậy được, giúp chúng ta biết chiến thắng những khép kín mà sự sợ hãi tương lai bất định đóng ấn trong con tim chúng ta, đặc biệt trong thời đại khủng hoảng ngày nay. Chúng ta hãy bỏ lại sau lưng sự luyến tiếc quá khứ không lành mạnh, sự hài lòng bảo thủ “từ trước đến giờ vẫn như vậy mà!”. Chúa Giêsu Đấng đã loạng choạng và té ngã, nhưng rồi lại đứng dậy, đã chỉ ra cho chúng ta sự chắc chắn của niềm hy vọng một khi được dưỡng nuôi bằng lời cầu nguyện liên lỉ, sẽ nảy sinh từ chính trong thử thách chứ không phải sau thử thách hoặc tách biệt khỏi thử thách.
Chúng ta sẽ là những người toàn thắng, nhờ tình yêu của Ngài.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cầu xin Chúa nâng lên khỏi mặt đất những người bất hạnh. Đỡ dậy khỏi bùn đất những người nghèo, đặt họ ngồi bên các ông hoàng của chư dân, và ban cho họ vị trí vinh quang. Xin lật nhào những kẻ quyền thế kiêu căng và phục hồi những người yếu đuối vì Chúa là Đấng duy nhất làm chúng con nên giầu có bởi cái nghèo của Ngài. (x. 1 Sam 2:4-8; 2 Cor 8:9). Amen.

10. Chặng thứ Mười
Chúa Giêsu bị lột áo
Hiệp nhất và phẩm giá


Ðóng đinh Ðức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: "Ðừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được". Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh:
Áo xống tôi, chúng đem chia chác, còn áo dài, cũng bắt thăm luôn. Ðó là những điều lính tráng đã làm. (Ga 19: 23-24)


Không một miếng vải nào được bọn lính chừa lại để che thân thể Chúa Giêsu. Họ lột trần Người. Chúa không còn áo choàng hay áo dài, không còn quần áo gì cả. Chúng lột trần Người như là hành vi hạ nhục cuối cùng. Thân xác Người chỉ còn được che đậy bằng dòng máu tuôn trào ra từ những vết thương sâu rộng.

Chiếc áo dài được giữ nguyên vẹn là hình ảnh của sự hiệp nhất của Giáo Hội, sự hiệp nhất đang được cố gắng tìm lại trên con đường kiên nhẫn, trong một nền hòa bình dày công xây dựng từng ngày, trên một khung cửi dệt tấm vải bằng sợi vàng của tình huynh đệ trong niềm hòa giải và trong sự tha thứ lẫn nhau.
Trong Chúa Giêsu, Đấng vô tội, bị lột trần và bị tra tấn, chúng ta nhận ra phẩm giá bị xúc phạm của tất cả mọi người vô tội, đặc biệt là của những kẻ bé mọn. Thiên Chúa không hề can thiệp, hay ngăn cản không để cho thân thể trần trụi của Người bị phơi bày trên thập giá. Người đã làm như thế để chuộc lại mọi lạm dụng, được che đậy cách bất công, và chứng tỏ rằng Người, Thiên Chúa, chắc chắn đứng về phía những nạn nhân một cách không thể quay lui được.

Lời Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, chúng con muốn trở lại ngây thơ như trẻ con, để được vào Nước Trời; Xin tẩy sạch chúng con khỏi những ô uế và những ngẫu tượng.
Xin lấy đi khỏi chúng con những trái tim chai đá tạo ra chia rẽ gây tổn hại đến uy tín của Giáo Hội Chúa. Xin ban cho chúng con một trái tim mới và một tinh thần mới để chúng con có thể sống theo lệnh truyền của Chúa và sẵn sàng tuân theo pháp luật của Người. Amen

11. Chặng thứ Mười Một
Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá
Bên giường người bệnh


Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì. Lúc chúng đóng đinh Người vào giờ thứ ba. Bản án xử tội Người viết rằng: "Vua dân Dothái". Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp. (Mc 15, 24-28)

Và họ đã đóng đinh Người! Hình phạt dành cho những kẻ gian ác, những tên phản bội, những nô lệ nổi loạn. Đây là một bản án dành cho Chúa Giêsu của chúng ta: những đinh nhọn xù xì, nỗi đau khổ tê buốt, nỗi sầu buồn của Mẹ Người, sự nhục nhã vì bị xếp ngang hàng với hai tên trộm cướp, bị quân lính tước hết áo để chia nhau, bị những người đi ngang qua chế giễu: “Nó cứu được người khác nhưng không thể tự cứu mình! Xuống khỏi thập giá đi thì chúng tôi sẽ tin ông” (Mt 27,42)

Họ đã đóng đinh Người! Giêsu đã không đi xuống khỏi thập giá, đã không từ bỏ thập giá. Ngài lưu lại trên thập giá và vâng phục ý Cha cho đến cùng. Ngài yêu thương và Ngài tha thứ.

Giống như Giêsu, ngày nay, rất nhiều anh chị em của chính ta đang bị đóng đinh vào giường bệnh, trong bệnh viện, nhà thương, trong gia đình. Đó là thời gian thử thách, những ngày cay đắng của cô đơn và thậm chí là thất vọng: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con?” (Mt 27,46)

Cầu xin cho đôi tay chúng ta không bao giờ gây thương tích, nhưng luôn luôn ở kề bên, an ủi và nâng đỡ những bệnh nhân, nâng họ dậy từ giường bệnh. Căn bệnh xảy đến chẳng bao giờ xin phép ai, nó đến bất thình lình. Đôi khi nó gây khó chịu, nó giới hạn tầm nhìn của chúng ta, thử thách niềm hy vọng của chúng ta. Nó rất cay đắng. Chỉ khi nào chúng ta thấy bên cạnh mình có ai đó lắng nghe chúng ta, gần gũi chúng ta, ngồi bên giường chúng ta... căn bệnh mới có thể trở thành trường dạy khôn ngoan vĩ đại, trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa Nhẫn Nại. Bất cứ khi nào có ai đó chia sẻ những đau yếu của chúng ta vì tình yêu thì lúc đó cả ngay trong đêm tối của khổ đau vẫn bừng lên ánh sáng vượt qua của Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Điều đối với con người là một bản án cũng có thể biến thành một hy lễ cứu chuộc vì lợi ích cho cộng đoàn và gia đình chúng ta. Các thánh đã cho chúng ta thấy điều đó.

Lời Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Xin đừng bao giờ rời xa con, xin ngồi bên cạnh chiếc giường đau yếu của con và đồng hành với con.
Xin đừng để con một mình nhưng giang tay ra và nâng con lên!
Con tin Chúa là tình yêu,
và con tin rằng thánh ý Chúa là biểu hiện của tình yêu của Ngài;
vì vậy con phó thân con theo thánh ý Chúa,
vì con đặt niềm tín thác nơi tình yêu Chúa. Amen

12. Chặng thứ Mười Hai
Chúa Giêsu chết trên thánh giá
Bẩy lời cuối cùng


Sau đó, Ðức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Ta khát!" Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Ðức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí. (Ga 19:28-30).

Bẩy lời cuối cùng của Giêsu trên thập giá là một kiệt tác của niềm hy vọng. Một cách từ từ từng bước một, Đức Giêsu đã đi qua tất cả sự tăm tối của đêm đen phó thác hoàn toàn trong vòng tay Cha. Đó là tiếng than van của người đang hấp hối, tiếng kêu của người tuyệt vọng, lời cầu cứu của người lạc lối. Là tiếng kêu của chính Đức Giêsu!

“Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Đây là tiếng kêu của Giob, của những ai đang bị vận rủi bủa vây. Thiên Chúa im lặng. Im lặng vì lời đáp trả của Ngài đã ở đó, trên cây thập giá: chính Ngài, Đức Giêsu, là lời đáp trả của Thiên Chúa, Lời vĩnh cửu đã nhập thể vì tình yêu. “Xin hãy nhớ đến tôi...” (Lc 23,42). Lời kêu cứu của người cùng chịu án tử bên kia đã đi vào con tim của Chúa Giêsu, nó vang vọng chính nỗi đau của Người. Và Giêsu đã lắng nghe lời kêu xin đó: “Hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi”. Những nỗi đau của người khác thường giải thoát chúng ta vì nó khiến chúng ta ra khỏi chính mình.

“Này bà, đây là con bà!...” (Ga 19,26). Chính mẹ của Ngài, Mẹ Maria, đang cùng với Gioan đứng dưới chân thập giá, đã phá tan nỗi sợ. Mẹ mang đến cho hiện trường một sự dịu dàng và hy vọng. Chúa Giêsu không hề cảm thấy đơn độc chút nào. Cũng giống như chúng ta, nếu bên cạnh giường bệnh có ai đó mà chúng ta thương mến chân thành cho đến cùng.

“Ta khát” (Ga 19,28). Giống như đứa trẻ xin mẹ mình cái gì đó để uống; giống như bệnh nhân bị cơn sốt làm nóng người... Cơn khát này của Chúa Giêsu là cơn khát của tất cả những ai đang khát khao sự sống, tự do, công bình. Và đó là cơn khát của người đang khát nhất là Thiên Chúa, Đấng còn hơn chúng ta, đang khát ơn cứu độ cho chúng ta.

“Mọi sự đã hoàn tất!” (Ga 19,30). Tất cả: mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi lời tiên báo, mọi khoảnh khắc của đời sống Chúa Giêsu. Tấm thảm hoa đã hoàn thành. Hàng ngàn sắc màu của tình yêu giờ đây tỏa ra nét đẹp lấp lánh. Chẳng có gì vô ích. Chẳng có gì bị vứt bỏ. Tất cả đều trở thành tình yêu. Tất cả đều được dành cho tôi, cho bạn! Ngay cả cơn hấp hối của Ngài cũng có một ý nghĩa!

“Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,24). Giờ đây, một cách anh hùng, Đức Giêsu thoát ra khỏi nỗi sợ chết. Vì nếu chúng ta sống trong tình yêu được cho đi nhưng không, tất cả sẽ là sự sống. Sự tha thứ sẽ đổi mới, chữa lành, biến đổi và an ủi! Nó tạo ra một dân mới. Nó chấm dứt chiến tranh.

“Lạy Cha, trong tay Cha, con xin phó thác hồn con” (Lc 23,46). Nỗi thất vọng không còn nữa, nhưng chỉ còn niềm tin tưởng tràn đầy trong tay Cha, tựa mình vào tim Cha. Bởi vì trong Thiên Chúa, từng mảnh cuối cùng sẽ được gắn lại với nhau thành một tổng hợp!

Lời Nguyện:
Lạy Thiên Chúa, Đấng trong cuộc thương khó của Chúa Kitô, đã giải phóng chúng con khỏi sự chết, là giá phải trả cho tội lỗi xưa của chúng con, mà toàn thể nhân loại thừa kế, xin đổi mới chúng con theo hình ảnh của Con Chúa.
Khi được hoài thai chúng con mang trong mình hình ảnh của những người phàm nhân trên dương thế, xin Chúa cho chúng con nhờ tác động của Thánh Thần có thể mang hình ảnh của con người thiên quốc.
Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

13. Chặng thứ Mười Ba
Đưa xác Chúa xuống khỏi thập giá
Tình yêu mạnh hơn sự chết


“Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành Arimathê, tên là Giôxép, và cũng là môn đệ Ðức Giêsu. Ông đến gặp ông Philatô để xin thi hài Ðức Giêsu. Bấy giờ tổng trấn Philatô ra lệnh trao trả thi hài cho ông.” (Mt 27,57- 58).

Trước khi được mai táng trong mồ, Đức Giêsu rốt cuộc cũng được trao cho mẹ Ngài. Mẹ là hình ảnh con tim bị đâm thâu, nói với chúng ta rằng cái chết không ngăn cản được nụ hôn cuối cùng của người mẹ dành cho con mình. Bên xác Giêsu, Mẹ Maria tiến sát bên Ngài bằng một cái ôm trọn vẹn dành cho Ngài. Hình ảnh này thường được gọi là “Mẹ Sầu Bi”. Thật đau buồn nhưng nó cho thấy cái chết không phá vỡ được tình yêu, vì tình yêu thì mạnh hơn sự chết! Tình yêu thuần khiết thì luôn còn mãi. Đêm đã đến. Trận chiến đã phân định thắng thua rạch ròi. Tình yêu vẫn còn nguyên trọn vẹn. Những ai sẵn sàng hiến mạng sống vì Đức Kitô, sẽ lại tìm thấy được nó, một sự sống được biến đổi sau cái chết.

Máu và nước mắt đã hòa lẫn trong tấn thảm kịch này. Cũng như cuộc sống của gia đình chúng ta, đôi khi cũng bị vây hãm bởi những mất mát bất ngờ và đau xót, với khoảng trống không thể khỏa lấp được, đặc biệt khi con cái của chúng ta qua đời.

Lòng thương xót có nghĩa là biến anh chị em thành người thân cận, những người đang trong cơn đau buồn và cảm thấy bất an. Thật là một lòng bác ái cao cả khi ta biết chăm sóc cho những ai đang chịu đau khổ nơi thân xác tổn thương, nơi tinh thần sa sút, nơi linh hồn tuyệt vọng. Tình yêu bao giờ cũng là một bài học cao cả mà Đức Giêsu và Mẹ Maria để lại cho chúng ta. Đó là sứ mạng an ủi anh chị em trong cuộc sống hàng ngày, một sứ mạng được trao ban trong chúng ta trong cái ôm thành tín giữa Đức Giêsu chịu chết và Đức Mẹ sầu bi của Ngài.

Lời Nguyện:
Lạy Mẹ Đồng Trinh Sầu Bi, nơi bàn thờ của chúng con Mẹ cho chúng con thấy khuôn mặt rạng ngời của Mẹ; với đôi mắt ngước lên trời và đôi bàn tay rộng mở, Mẹ dâng lên Chúa Cha trong cử chỉ hiến tế nạn nhân cứu độ là Chúa Giêsu Con Mẹ.
Xin chỉ cho chúng con vị ngọt của vòng tay trung thành cuối cùng và ban cho chúng con sự an ủi từ mẫu của Mẹ, để những nỗi buồn trong cuộc sống hàng ngày của chúng con không bao giờ làm lu mờ hy vọng của chúng con về cuộc sống đời sau. Amen.

14. Chặng thứ Mười Bốn
Táng xác Chúa vào huyệt đá mới
Khu vườn mới


“Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Dothái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó.” (Ga 19,41-42)

Khu vườn, nơi có ngôi mộ mai táng Đức Giêsu, nhắc nhớ chúng ta về một khu vườn khác: Vườn Êđen. Một khu vườn đã bị mất đi nét đẹp và trở thành nỗi sầu khổ, nơi chết chóc và không còn sự sống nữa bởi sự bất tuân của con người. Những nhành cây hoang dại vốn ngăn cản chúng ta hít thở thánh ý Thiên Chúa, cũng như sự gắn bó với tiền tài, danh vọng, lối sống phóng đãng, giờ đây đã bị cắt bỏ và đính chặt vào gỗ cây Thập Giá. Đây là khu vườn mới: cây thánh giá được cắm vào thế gian!

Trên cao ấy, Đức Giêsu đã mang tất cả trở lại với sự sống. Sau khi Ngài trở lại từ nơi hố thẳm địa ngục, nơi Satan đã giam giữ rất nhiều linh hồn, tất cả mọi sự đã bắt đầu được phục hồi. Ngôi mộ là biểu tượng cho cái kết thúc của con người cũ. Thiên Chúa đã không để cho Chúa Giêsu và tất cả chúng ta, là con cái Ngài phải chịu hình phạt là cái chết đời đời. Trong cái chết của Đức Kitô, vương quyền của sự dữ, thứ vương quyền đặt nền trên tham vọng và con tim cứng cỏi, đã bị bẻ gãy.

Cái chết sẽ tước đoạt hết mọi thứ của chúng ta, làm cho chúng ta hiểu rằng sự hiện hữu của chúng ta trên dương thế này có một giới hạn và tới hồi kết thúc. Nhưng trước thân xác Đức Giêsu, một thân xác chịu mai táng trong mồ, chúng ta ý thức được chúng ta là ai. Chúng ta là những thụ tạo cần đến Đấng Tạo Hóa của chúng ta để không phải chết. Sự thinh lặng đang phủ kín khu vườn cho phép chúng ta lắng nghe được thanh âm của làn gió nhẹ: “Ta là Đấng hằng sống và ta luôn ở với các con” (Xh 3,14) Tấm màn trướng trong đền thờ đã bị xé toạc ra. Cuối cùng, chúng ta cũng được thấy dung nhan của Thiên Chúa chúng ta. Chúng ta biết được tên đầy đủ của Người: đó là lòng thương xót và sự trung tín, để ta không còn phải bối rối sợ hãi cả khi phải đối diện với cái chết vì Con Thiên Chúa đã sống lại từ trong kẻ chết (X. Tv 88,6)

Lời Nguyện:
Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con,
vì bên Ngài con đang ẩn náu.
Con thưa cùng CHÚA: "Ngài là Chúa con thờ,
ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc?"
Còn thần ngoại xứ này, những thần linh xưa con sùng mộ,
vẫn gia tăng tàn phá, và thiên hạ tới tấp chạy theo.
Máu tế thần, con quyết chẳng dâng,
tên của thần, môi con không tụng niệm!
Lạy CHÚA, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,
là chén phúc lộc dành cho con;
số mạng con, chính Ngài nắm giữ.
Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
vâng, gia nghiệp ấy làm con thỏa mãn.
Con chúc tụng CHÚA hằng thương chỉ dạy,
ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.
được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ.
Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan,
thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn.
Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty,
không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ.
Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống:
trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,
ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi! Amen
(x. Tv 15)