Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
Xin đừng là một Kitô hữu ‘xác ướp’ hay một Kitô hữu ‘lang thang’
Bùi Hữu Thư04/05/2016
Tại nhà nguyện Thánh Mác Ta, Đức Thánh Cha nhắc rằng chỉ có Chúa Giêsu mới là con đường

Vatican: ngày 3, tháng 5, 2016

Hôm nay Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc rằng muốn là một Kitô hữu thì con đường độc nhất để theo là Chúa Giêsu, vì Người đã nói: “Ta là con đường.”

Ngược lại với những người đi theo Chúa Giêsu vì Chúa là con đường, Đức Thánh Cha lưu ý những ai đang chỉ là những Kitô hữu “xác ướp” hay một Kitô hữu “lang thang”.

Các Xác Ướp

“Các Kitô hữu đứng yên, không tiến bước, là các phi-Kitô. Chúng ta không biết chắc họ là ai. Họ là những Kitô hữu hơi bị ‘vô thần hóa’: là những người đứng yên không tiến bước trong đời sống Kitô, không để cho hoa trái của Tám Mối Phúc Thật nở hoa trong đời sống, họ không thực hiện các công trình của lòng thương xót… họ bất động. Tôi xin lỗi khi phải nói rằng họ là những xác chết đã ướp, một xác chết về tinh thần. Có những Kitô hữu là những ‘xác chết về tinh thần,’ bất động. Họ không làm điều gì xấu nhưng họ không làm điều gì tốt.”

Những kẻ lang thang

“Họ là những kẻ lang thang trong đời Kitô. Trong đời, họ quay tới quay lui, và vì thế họ đánh mất sự huy hoàng của việc đến gần Chúa Giêsu trong đời sống Chúa Giêsu. Họ lạc đường vì họ liên tục xoay trở, và thường khi chọn lối sai, dẫn đưa họ đến chỗ bí tắc không đường ra.

Khi đổi hướng sau bao nhiêu lần (con đường) trở thành một trận đồ huyền bí, một bến mê, và họ không biết làm sao để ra khỏi. Họi đã để mất tiếng gọi của Chúa Giêsu. Họ không có la bàn để tìm đường ra và họ cứ phải loay hoay tìm kiếm. Có những Kitô hữu kia, trên hành trình đã bị mê hoặc bởi một cái gì và họ dừng lại nửa đường, bị mê hoặc bởi cái gì họ thấy, bởi một ý tưởng, một đề nghị hay một phong cảnh đẹp. Và họ đã dừng lại! Đời sống Kitô không phải là một sự mê hoặc: mà là chân lý! Đó là Chúa Giêsu Kitô!”

Sau đó Đức Thánh Cha khuyên mỗi người hãy xét xem mình là loại Kitô hữu nào:

Khi chúng ta đứng trước những gì chúng ta ưa thích như những gì thế tục và kiêu danh, hay khi chúng ta đang tiến bước và “thực hành Tám Mối Phúc Thật và các công trình bác ái” trong đời sống hàng ngày. Đức Thánh Cha kết luận: con đường của Chúa Giêsu “có rất nhiều sự an ủi, vinh quang, và cả thập giá nữa. Nhưng luôn luôn chúng ta có bình an trong tâm hồn.”
Đức Thánh Cha viết thư cho tổng thống Venezuela về tình trạng nghiêm trọng của đất nước
Đặng Tự Do04/05/2016
Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết một bức thư tới Tổng thống Nicholas Maduro của Venezuela về cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị ở quốc gia này.

Cha Federico Lombardi, giám đốc văn phòng báo chí Vatican, xác nhận rằng Đức Giáo Hoàng đã viết thư cho Maduro, nhưng từ chối tiết lộ nội dung của bức thư. Ngài nói: “Đức Giáo Hoàng theo dõi với sự quan tâm rất lớn về tình hình nghiêm trọng tại Venezuela,” và nhắc nhở các phóng viên rằng Đức Thánh Cha đã đề cập đến cuộc khủng hoảng ở đất nước Nam Mỹ này trong buổi đọc sứ điệp Phục Sinh Urbi et Orbi.

Lạm phát phi mã, với sự thiếu hụt thực phẩm và vật liệu cơ bản, đã khiến cuộc biểu tình nổ ra rộng khắp Venezuela. Trong nhiều trường hợp, các lực lượng bảo vệ an ninh trật tự không khống chế được tình hình đã tạo nhiều cơ hội cho nạn cướp bóc và hôi của.

Cha Lombardi nhận xét rằng các giám mục Venezuela đã thường xuyên gọi sự chú ý đến tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng, gần đây nhất là trong một tuyên bố vào ngày 27 tháng 4, khi họ kêu gọi Tổng thống Maduro cho phép các cơ quan của Giáo Hội nhập khẩu lương thực và thuốc men trước sự thiếu hụt chưa từng có.
Tông Huấn Amoris Laetitia dưới mắt Đức Hồng Y Schonborn
Vũ Văn An04/05/2016
Phản ứng đối với Tông Huấn Hậu Thượng Đồng về Hôn Nhân và Gia Đình Amoris Laetitia rất tức khắc và lẫn lộn. Người thì cho tông huấn này thay đổi tất cả, người thì cho nó chẳng thay đổi gì. Người thì cho đây là một trong những văn kiện quan trọng của huấn quyền, người cho đây chỉ là suy nghĩ cá nhân của Đức Phanxicô. Người thì coi nó là một văn kiện nhất quán. Người thì cho nó là hai văn kiện song hành, lắm khi đối chọi nhau.

Các nguồn của Tông Huấn

Đức Phanxicô hiển nhiên coi đây là một văn kiện thuộc huấn quyền, cho nên đã xếp nó vào loại Tông Huấn, tức giáo huấn tông truyền, nhất định không phải là suy nghĩ cá nhân. Theo Đức Hồng Y Baldisseri, Tổng Thư Ký Thượng Hội Đồng Giám Mục, một trong hai vị họp báo công bố Tông Huấn, tính tông truyền này có thể được thấy rõ ở các nguồn của nó: “nền tảng căn bản của Tông Huấn là hai văn kiện sau cùng của hai phiên họp thượng hội đồng về gia đình: 52 trích dẫn từ Phúc Trình Thượng Hội Đồng (Relatio Synodi) năm 2014 và 84 trích dẫn từ Phúc Trình Sau Cùng (Relatio Finalis) năm 2015… Đàng khác, văn kiện này cũng tham chiếu rất nhiều từ Các Giáo Phụ… qua các thần học gia trung cổ và cận đại… tới các tác giả hiện đại… Trong số các văn kiện của các vị giáo hoàng tiền nhiệm, ta thấy Casti Connubii của Đức Piô XI; Mystici Corpori Christi của Đức Piô XII; Humanae Vitae của Đức Phaolô VI … Các Bài Giáo Lý về Tình Yêu Nhân Bản và Tông Huấn Familiaris Consortio của Đức Gioan Phaolô II; Deus Caritas Est của Đức Bênêđictô XVI… Công Đồng Vatican II được trích dẫn 28 lần, Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo được trích dẫn 15 lần… Các văn kiện khác của Tòa Thánh được trích dẫn 12 lần và các văn kiện của các hội đồng giám mục được trích dẫn 10 lần”. Không phải chỉ là trích dẫn mà là trích dẫn với những quả quyết như ‘tôi ủng hộ’ (số 297), ‘tôi nhất trí’ (số 299), ‘tôi coi là thích đáng’ (số 302).

Dĩ nhiên, điều đặc biệt là giáo huấn tông truyền này đề cập đến hàng loạt nhiều vấn đề khác nhau, trong đó nhiều vấn đề còn đang cần được “biện phân”, nên tính chất giáo huấn cũng rất khác nhau, mức độ và hình thức áp dụng, vì thế cũng khác nhau. Chính Đức Giáo Hoàng cũng cho ta rõ điều này khi ngài cho rằng “Đối với chính các gia đình và những ai dấn thân vào việc tông đồ gia đình, lợi ích lớn lao nhất sẽ xuất hiện nếu mỗi phần được đọc một cách kiên nhẫn và thận trọng, hoặc, nếu chú ý tới các phần nói tới các nhu cầu chuyên biệt của họ. Thí dụ, các cặp vợ chồng có lẽ sẽ quan tâm nhiều hơn tới các chương bốn [tình yêu trong hôn nhân] và năm [tình yêu sinh hoa trái], còn các thừa tác viên mục vụ có lẽ sẽ quan tâm nhiều hơn tới chương sáu [một số viễn ảnh mục vụ], trong khi người nào cũng nên cảm thấy như được chương tám [đồng hành, biện phân và hội nhập yếu đuối] thách thức”.

Nhu cầu và thách thức

Như mọi người đều biết: các nhà bình luận cả cấp tiến lẫn bảo thủ phần lớn chỉ lưu tâm tới chương tám mà thôi, nhất là tới ghi chú số 351. Chương này, tuy khuyên mọi người, bất kể là ai, nên đọc, nhưng Đức Phanxicô bảo nên đọc nó như một “thách thức” không hẳn như một “nhu cầu chuyên biệt”. Thách thức là một điều người ta khó có thể thực hiện ngay được, nó gần như là một lý tưởng mình nên khởi đầu dấn thân vào từ bây giờ, một thái độ chủ quan nên có. Nhu cầu chuyên biệt thì phải giải quyết ngay, không thể chần chờ. Do đó, tính giáo huấn của mỗi chương cũng cần được “biện phân” vậy.

Thành thử mục vụ hôn nhân và gia đình có những khía cạnh phải thực hành ngay như những “nhu cầu chuyên biệt”, có những khía cạnh nêu ra như một lý tưởng thách thức ta bước tới, có chỉ thỉ cụ thể gì đâu. Chúng tôi đồng ý với nhiều bình luận gia rằng: Đức Phanxicô không hề nhắc tới việc cho phép người ly dị tái hôn được rước lễ. Ngài chỉ khuyên ta phải đồng hành với họ, giúp họ biện phân hoàn cảnh của họ và dẫn họ tới tính viên mãn của hôn nhân Kitô Giáo. Tính thách thức, thiển nghĩ, chính là ở điểm đó. Tóm lại, ngài không hẳn nhằm nói với người ly dị tái hôn, mà là nói với “mọi người” để họ thay đổi thái độ đối những người mà ngài vẫn coi là anh chị em của ta.

Hơn nữa, trong cuộc họp báo trên không từ đảo Lesbos, Hy Lạp, trở lại Rôma, ngày 16 tháng Tư vừa qua, khi được hỏi: tại sao một vấn đề quan trọng như thế lại chỉ được nói đến ở ghi chú số 351, ngài có thấy trước người ta sẽ phản đối không, hay ngài muốn nói: điều này không quan trọng gì? Ngài cho hay: vấn đề mà giới truyền thông nêu ra khi ngài triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình năm 2014 rằng liệu Giáo Hội có cho phép người ly dị tái hôn rước lễ hay không làm ngài vừa khó chịu vừa buồn lòng. “Vì tôi nghĩ: họ nói hết điều này tới điều nọ, nhưng há họ không hiểu ra rằng đó không phải là vấn đề quan trọng hay sao? Há họ không hiểu ra rằng gia đình đang gặp khủng hoảng khắp nơi trên thế giới đó sao? Mà gia đình là nền tảng của xã hội! Há họ không hiểu ra rằng giới trẻ không muốn kết hôn hay sao? Há họ không hiểu ra rằng việc giảm sinh suất ở Âu Châu đang làm người ta phát khóc đó sao? Há họ không hiểu ra rằng thiếu công ăn việc làm và khả thể có việc làm (trầm trọng) đến nỗi cha mẹ phải giữ hai công việc khiến con cái trần thân lớn lên một mình, không học lớn lên trong đối thoại với cha mẹ đó sao? Đó là những vấn đề lớn! Tôi không nhớ ghi chú ấy, nhưng chắc chắn nếu nó là một chuyện thuộc loại ấy, nghĩa là trong một ghi chú, thì hẳn là đã được nói tới trong Evangelii Gaudium, chắc chắn như thế! Nó phải là một trích dẫn từ Evangelii Gaudium”.

Như sợ người đọc hiểu lầm, ngài đã nhờ Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Vienna là Schonborn giới thiệu Tông Huấn. Trong cuộc họp báo vừa nói, ngài cho hay thêm: “Tôi khuyên tất cả qúy vị đọc bài trình bầy của Đức Hồng Y Schonborn; ngài là nhà thần học vĩ đại. Ngài là thành viên của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và biết rõ Tín Lý của Giáo Hội”.

Đức Hồng Y Schonborn đọc Tông Huấn

Trong bài trình bầy của ngài, Đức Hồng Y Schonborn nói rằng: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thành công trong việc nói tới mọi hoàn cảnh mà không phân loại chúng, không phạm trù hóa chúng, với một nhãn quan nhân hậu căn bản vốn được liên kết với trái tim Thiên Chúa, với đôi mắt Chúa Giêsu, Đấng không loại trừ ai (xem NVYT, số 297), (trái lại) chào đón mọi người và ban cho mọi người ‘niềm vui Tin Mừng’”.

Ngài nói thêm: “Trong bầu khí chào đón này, văn kiện nói đến viễn kiến Kitô Giáo về hôn nhân và gia đình trở thành một lời mời, một lời khuyến khích đối với niềm vui yêu thương mà ta có thể tin và không loại trừ ai, thực sự và thành thực không trừ một ai”.

Theo Đức Hồng Y Schonborn, Tông Huấn Amoris Laetitia của Đức Phanxicô, trước hết và trên hết, là một “biến cố ngôn ngữ học”: lời lẽ không hề có tính phê phán. “Ở đây là một lòng tôn trọng trước mọi người vì họ không bao giờ là một ‘trường hợp có vấn đề’ trong một ‘phạm trù’, mà đúng hơn là một con người độc đáo, với câu truyện riêng và cuộc hành trình riêng của họ với và hướng về Thiên Chúa”. Thái độ nền tảng này cũng cung cấp lý do sâu xa nhất cho hai chữ chủ yếu sau đó là biện phân đồng hành, không những chỉ đối với gia đình “bất hợp lệ” mà với mọi gia đình. Thành thử, Đức Hồng Y cho hay, tông huấn này đã vượt qua sự phân biệt giả tạo, hời hợt giữa “hợp lệ” và “bất hợp lệ”, và đặt mọi người dưới lời kêu gọi nên thánh chung.

Tính “bao gồm” nói trên làm nhiều người bối rối. Đức Hồng Y hỏi rằng “Há nó không thiên về chủ nghĩa duy tương đối hay sao? Việc năng nói tới lòng thương xót há không trở thành buông thả đó sao?” Há đã không còn sự rõ ràng nào nữa về những giới hạn không được vượt qua, những hoàn cảnh buộc phải định nghĩa một cách khách quan là bất hợp lệ hay tội lỗi đó sao? Phải chăng Tông Huấn này nghiêng về một thứ buông thả nào đó, một cảm thức cho rằng “chuyện gì cũng cho qua được hết”? Lòng thương xót của Chúa Giêsu há không khắt khe và đòi hỏi nhiều hơn hay sao?

Để trả lời các câu hỏi trên, Đức Hồng Y trích dẫn số 35 trong Tông Huấn: “Là các Kitô hữu, chúng ta khó có thể ngưng, không cổ vũ hôn nhân, chỉ để tránh đụng chạm tới các nhậy cảm hiện thời, hoặc vì muốn hợp thời thượng hoặc vì cảm thấy bất lực trước các thất bại nhân bản và luân lý. Làm như thế chúng ta đã tước bỏ cả một thế giới giá trị mà chúng ta vốn có thể và phải cung ứng. Đã đành, chỉ biết tố cáo các cái xấu hiện thời như thể ta chẳng thay đổi được gì là điều vô nghĩa. Cũng chẳng ích lợi gì khi cố gắng áp đặt các qui luật chỉ bằng thẩm quyền của mình mà thôi. Điều cần là chúng ta phải ra sức một cách có trách nhiệm và quảng đại hơn trong việc trình bầy các lý lẽ và nguyên động lực cho việc quyết định kết hôn và lập gia đình, và nhờ cách này, giúp các người nam nữ đáp ứng ơn thánh mà Thiên Chúa cung ứng cho họ một cách tốt đẹp hơn”.

Đức Hồng Y không quên nhấn mạnh việc Đức Phanxicô cho rằng cách Giáo Hội xử lý với hôn nhân trong quá khứ cần được “tự phê”: “Chúng ta cũng cần phải khiêm tốn và hiện thực, thừa nhận rằng có lúc, cung cách ta trình bầy các niềm tin Kitô Giáo và việc cư xử với người khác chỉ giúp làm gia trọng tình thế đang gây vấn nạn hiện nay mà thôi. Ta cần liều thuốc tự phê lành mạnh. Rồi, ta còn hay trình bầy hôn nhân (tệ đến nỗi) khiến cho ý nghĩa nên một của nó, lời mời gọi lớn lên trong yêu thương của nó và lý tưởng trợ giúp nhau của nó bị che khuất bởi việc hầu như chỉ chuyên chú nhấn mạnh tới nhiệm vụ truyền sinh. Ta cũng đã không luôn cung cấp được sự hướng dẫn vững chắc cho những cặp vợ chồng trẻ, hiểu biết thời khóa biểu của họ, cách suy nghĩ và các quan tâm cụ thể của họ. Có lúc, ta cũng đã đề xuất một lý tưởng thần học về hôn nhân quá trừu tượng và gần như giả tạo, quá xa rời các hoàn cảnh cụ thể và các khả thể thực tế của các gia đình đích thực. Việc lý tưởng hóa thái quá này, nhất là khi ta thất bại trong việc gây hứng cho lòng tín thác vào ơn thánh Chúa, không giúp làm cho hôn nhân trở thành đáng ước muốn và lôi cuốn hơn, nhưng trở thành điều trái ngược hẳn” (số 36).

Hồi Tâm Mục Vụ

Tính hiện thực cần thiết nói trên hoàn toàn phản ảnh kinh nghiệm Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình năm ngoái trong đó, các giám mục của các nhóm nhỏ đã chia sẻ kinh nghiệm sống trong chính gia đình của các ngài. Đức Hồng Y thuật lại rằng: hầu hết các vị giám mục và các tham dự viên khác đều cho thấy trong gia đình họ, có đủ các chủ đề, các âu lo và các “bất hợp lệ” được bàn tới một cách trừu tượng ở Thượng Hội Đồng. Như thế, mọi người đều cần một cuộc “hồi tâm mục vụ”.

Theo Đức Hồng Y Schonborn, cuộc “hồi tâm mục vụ” nói trên được Amoris Laetitia đề cập tới như sau: “Từ lâu chúng ta vốn nghĩ rằng chỉ bằng cách nhấn mạnh tới các vấn đề tín lý, sinh học và luân lý, không cần phải khuyến khích sự cởi mở với ơn thánh, ta đã đang cung cấp cho các gia đình sự trợ giúp thỏa đáng, củng cố dây hôn phối và đem lại ý nghĩa cho đời sống vợ chồng rồi. Ta thấy khó có thể trình bầy hôn nhân như con đường năng động để phát triển và hoàn thành bản thân hơn là một gánh nặng suốt đời. Ta cũng thấy khó có thể dành chỗ cho lương tâm tín hữu, những người thường hết mình đáp ứng Tin Mừng, bất chấp các hạn chế bản thân, và có khả năng thực hiện sự biện phân về chính họ trong các hoàn cảnh phức tạp. Chúng ta vốn được kêu gọi đào tạo các lương tâm, chứ không thay thế chúng” (số 37).

Đức Giáo Hoàng nói tới niềm tín thác sâu xa trong tâm hồn và việc hoài nhớ của người ta. Ngài nói tới nó một cách rất hay trong suy nghĩ của ngài về giáo dục. Ở đây, ta thấy rõ ảnh hưởng của truyền thống Dòng Tên trong việc giáo dục trách nhiệm bản thân. Đức Giáo Hoàng nhắc tới hai nguy hiểm trái ngược nhau: “để mặc” (laisser-passer) và ám ảnh với việc kiểm soát và thống trị mọi sự. Một đàng, đúng là “Các gia đình không thể là gì khác hơn là những nơi để nâng đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn... Cảnh giác luôn là điều cần thiết và sao lãng không bao giờ có ích” (số 260). Nhưng cảnh giác cũng có thể trở thành ám ảnh: “Tuy nhiên, ám ảnh không phải là giáo dục. Ta không thể kiểm soát mọi hoàn cảnh mà một đứa con có thể trải qua… Nếu các cha mẹ cứ bị ám ảnh với việc phải biết cho bằng được con cái họ đang ở đâu và lo kiểm soát mọi chuyển động của chúng, thì họ chỉ tìm cách khống chế không gian. Nhưng việc này không hề là giáo dục, là củng cố và chuẩn bị để con cái đương đầu với các thách đố. Điều quan trọng hơn cả là khả năng âu yếm giúp chúng lớn mạnh trong tự do, già dặn, kỷ luật tổng thể và thực sự tự lập” (số 261).

Tin tưởng lương tâm tín hữu

Đức Hồng Y cho rằng thực hành mục vụ trong Giáo Hội cũng phải như thế. Thực vậy, Đức Phanxicô hay trở tới trở lui với việc tin tưởng vào lương tâm của tín hữu “Chúng ta vốn được kêu gọi đào tạo các lương tâm, chứ không thay thế chúng” (số 37). Vấn đề lớn ở đây hiển nhiên là thế này: ta phải đào tạo lương tâm ra sao? Làm thế nào nắm được đâu là ý niệm then chốt của văn kiện quan trọng này, đâu là chìa khóa để hiểu chính xác các ý định của Đức Phanxicô: “biện phân bản thân”, nhất là trong các hoàn cảnh khó khăn và phức tạp?

Đức Hồng Y cho rằng “biện phân” vốn là ý niệm trung tâm trong khoa linh thao của Thánh Inhaxiô. Thực vậy, các linh thao này phải giúp người ta biện phân thánh ý Thiên Chúa trong các hoàn cảnh sống cụ thể. Chính biện phân đem lại đặc điểm chín chắn cho một con người và đường lối Kitô Giáo phải giúp người ta đạt được sự chín chắn bản thân này: không đào tạo những người máy, bị điều kiện hoá từ bên ngoài và được điều khiển từ xa, nhưng đào tạo những con người chín chắn trong tình bằng hữu với Chúa Kitô. Chỉ khi nào việc “biện phân" bản thân này chín chắc thì người ta mới đạt được “sự biện phân mục vụ”; điều này càng quan trọng trong “các hoàn cảnh chưa đạt được những gì Chúa đòi hỏi nơi ta” (số 6). Chương thứ tám đề cập tới việc “biện phân mục vụ” này, “một chương”, theo Đức Hồng Y, “được chú ý rất nhiều không những đối với công luận trong Giáo Hội, mà cả với giới truyền thông nữa”.

Chương nào quan trọng

Thế nhưng theo Đức Hồng Y, Đức Phanxicô coi các chương 4 và 5 mới có tính trung tâm không những vì vị trí mà còn vì nội dung của chúng nữa. “Vì ta không thể khuyến khích con đường trung tín và hiến thân cho nhau nếu không khuyến khích việc tăng triển, việc củng cố và việc thâm hậu hóa lòng yêu thương vợ chồng và gia đình” (số 89). Hai chương có tính trung tâm của Amoris Laetitia này chắc chắn sẽ bị lướt qua bởi nhiều người chỉ mong sớm tới những điều gọi là “những củ khoai nóng hổi”, những điều [họ coi là] quan yếu. Là một chuyên viên sư phạm, Đức Phanxicô biết rõ: không gì lôi cuốn và khích lệ mạnh mẽ bằng kinh nghiệm yêu thương tích cực. “Nói về yêu thương” (số 89) rõ ràng đem lại niềm vui lớn lao cho Đức Phanxicô, và ngài nói về nó một cách hết sức linh động, dễ hiểu và đầy tương cảm (empathy). Chương bốn là lời bình luận rộng dài về “ca khúc yêu thương” trong chương 13 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô. Mọi người nên đọc lời bình luận này. Nó khuyến khích ta tin vào lòng yêu thương (xem Ga 4:16) và tin tưởng vào sức mạnh của nó. Chính ở đây, tăng trưởng, một từ ngữ then chốt khác của Amoris Laetitia , tìm được chỗ đứng chính: không chỗ nào, nó tự biểu lộ rõ ràng bằng ở đây, nhưng nó cũng có thể trở thành lạnh lùng. Chương này rất đáng đọc. Nhưng cần chỉ rõ một khía cạnh: ở đây, Đức Phanxicô đề cập rõ ràng tới vai trò của đam mê, của xúc cảm, của gợi dục (eros) và tính dục nói chung trong đời sống hôn nhân và gia đình. Không phải là chuyện tình cờ khi, ở đây, ngài nối kết với Thánh Tôma Aquinô, vị thánh vốn dành một vai trò quan trọng cho đam mê, trong khi xã hội hiện đại tỏ ra muốn hạ giá hay làm ngơ nó.

Chính ở đây, tựa đề tông huấn của Đức Phanxicô tìm được biểu thức trọn vẹn nhất của nó: Niềm Vui Yêu Thương!”. Ở đây, ta hiểu làm thế nào ta có thể “khám phá ra phẩm giá và vẻ đẹp của hôn nhân” (NVYT số 205). Nhưng ở đây, ta cũng đau đớn khám phá ra: tình yêu đã gây nên không biết bao nhiêu thương tích và kinh nghiệm thất bại của các mối liên hệ này đã xé nát con người như thế nào. Chính vì thế, không lạ gì nhiều người lưu ý tới chương tám. Thực vậy, đối với nhiều người, vấn đề Giáo Hội đã xử lý các thương tích này ra sao, Giáo Hội đã xử lý thế nào các thất bại của yêu thương, đã trở thành một câu hỏi thử nghiệm để hiểu liệu Giáo Hội có thực sự là nơi lòng thương xót của Thiên Chúa đuợc cảm nhận hay không.

Kết quả của hai Thượng Hội Đồng

Đức Hồng Y Schonborn quả quyết rằng chương này là do công trình làm việc hăng say của hai Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình, do các cuộc thảo luận rộng dài trong các diễn đàn công luận và giáo luận. Ở đây, ta thấy rõ tính hoa trái trong phương pháp của Đức Phanxicô. Ngài minh nhiên muốn có một cuộc thảo luận cởi mở về việc đồng hành mục vụ với các hoàn cảnh phức tạp, và đã có thể đặt căn bản đầy đủ cho cuộc đồng hành này trên hai bản văn của hai Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình đã trình lên ngài, cho thấy khả thể “đồng hành, biện phân và hội nhập yếu đuối” (số 291).

Đức Phanxicô minh nhiên nhận làm của riêng các lời tuyên bố mà cả hai Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình đã trình lên ngài: “Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã đạt được một đồng thuận tổng quát, được tôi ủng hộ” (số 297). Về những người ly dị và tái hôn dân sự, ngài nói: “Tôi nhất trí với nhiều nghị phụ Thượng Hội Đồng khi nhận định rằng... Luận lý học của việc hội nhập này là chìa khóa cho việc đồng hành mục vụ với họ... Không những họ không nên tự coi mình như những chi thể bị tuyệt thông của Giáo Hội, mà như các chi thể sống động, có khả năng sống và lớn mạnh trong Giáo Hội và cảm nghiệm Giáo Hội như mẹ hiền luôn đồng hành với họ...” (số 299).

Nhưng trên thực tế, điều trên có nghĩa gì? Câu trả lời dứt khoát tìm thấy ở số 300. Nó không những cung cấp chất liệu để ta thảo luận thêm mà còn đưa ra sự minh xác quan trọng và chỉ cho thấy nẻo đường cần phải theo: “Nếu ta xét tới tính đa dạng vĩ đại trong các hoàn cảnh cụ thể... thì dễ hiểu được việc: cả Thượng Hội Đồng lẫn Tông Huấn này đều không có hy vọng cung cấp được một loạt các qui định tổng quát mới, có bản chất giáo luật và có thể áp dụng cho mọi trường hợp”. Nhiều người mong đợi các qui định này, và họ phải thất vọng. Vậy điều gì có thể có? Đức Giáo Hoàng nói rõ: “Điều có thể làm được đơn giản chỉ là một khuyến khích đổi mới đối với việc phải đảm nhiệm việc biện phân các trường hợp đặc thù một cách có trách nhiệm, cả bản thân lẫn mục vụ”.

Làm thế nào để biện phân

Làm thế nào để các biện phân bản thân và mục vụ này có thể có và nên có chính là chủ đề của toàn bộ các số từ 300 tới 312. Đức Hồng Y nhận định rằng Đức Giáo Hoàng đã tiếp nhận làm của riêng “Lộ Trình” biện phân trong phần phụ lục các tuyên bố của Nhóm Nói Tiếng Đức tại Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình năm 2015.

“Điều chúng ta đang nói tới là một diễn trình đồng hành và biện phân nhằm hướng dẫn tín hữu ý thức được hoàn cảnh của họ trước mặt Thiên Chúa”. Nhưng Đức Giáo Hoàng cũng nhắc nhở rằng “việc biện phân này không bao giờ được quên xét đến các đòi hỏi của Tin Mừng về chân lý và bác ái, như đã được Giáo Hội đề xuất”.

Theo Đức Hồng Y, Đức Giáo Hoàng cũng nhắc tới hai sai lầm. Một là quá khắt khe: “Mục tử không được cảm nhận điều này: chỉ cần áp dụng các lề luật luân lý vào những người đang sống trong các hoàn cảnh ‘bất hợp lệ’ là đã đủ, như thể các lề luật này là những viên đá dùng để ném vào cuộc sống người ta. Đó là trường hợp khép kín cõi lòng của những người quen nấp đàng sau các giáo huấn của Giáo Hội” (số 305). Mặt khác, Giáo Hội “không hề chống lại việc đề xuất lý tưởng hôn nhân trọn vẹn, vốn là kế hoạch của Thiên Chúa trong mọi nét cao cả của nó” (số 307).

Ghi chú 351

Lẽ dĩ nhiên, việc trên đặt ra câu hỏi này: Đức Giáo Hoàng nói gì liên quan tới việc lui tới các bí tích của những người đang sống trong các hoàn cảnh “bất hợp lệ”? Đức Bênêđíctô XVI đã nói rằng “các công thức dễ dãi” không hề có (số 298, ghi chú 333). Đức Phanxicô nhắc lại việc cần phải biện phân hoàn cảnh này cách thận trọng, phù hợp với tông huấn Familiaris consortio, số 84 của Đức Gioan Phaolô II (số 298). “Việc biện phân phải giúp tìm ra các cách thế khả hữu để đáp trả Thiên Chúa và lớn lên giữa các giới hạn của người ta. Vì suy nghĩ mọi sự đều đen và trắng, nên đôi khi ta đóng kín đường ơn thánh và đường tăng trưởng, không khuyến khích các nẻo đường nên thánh nhằm đem vinh quang lại cho Thiên Chúa” (số 305). Ngài cũng nhắc nhở ta một câu quan trọng của Evangelii gaudium, số 44: “Một bước đi nhỏ giữa những hạn chế to lớn của con người, có thể làm vui lòng Thiên Chúa hơn là một cuộc sống bề ngoài xem ra đúng mực nhưng ngày ngày không phải đối diện với những khó khăn to lớn nào” (số 304). Theo hướng “via caritatis” (đường bác ái) này (số 306), Đức Phanxicô quả quyết, một cách khiêm nhường và đơn sơ, trong ghi chú 351 rằng ơn trợ giúp của các bí tích cũng có thể ban “trong một số trường hợp”. Nhưng ngài không cung cấp cho ta các trường hợp điển hình hay công thức nào cho mục đích này cả, thay vào đó, ngài chỉ nhắc nhở ta hai câu nói thời danh của ngài: “Tôi muốn nhắc nhớ các linh mục rằng toà giải tội không phải là một buồng tra tấn nhưng là một nơi gặp gỡ lòng từ bi của Chúa” (Niềm Vui Tin Mừng số 44) và Bí tích Thánh Thể, “không phải là một phần thưởng cho người hoàn thiện, mà là một phương thuốc và lương thực cho người yếu đuối” (Niềm Vui Tin Mừng số 47).

Tình yêu sẽ tìm ra cách

Đức Hồng Y Schonborn tự hỏi: đây có phải là một thách đố quá đáng không cho các mục tử, cho việc hướng dẫn thiêng liêng và cho các cộng đồng khi “việc biện phân các hoàn cảnh” không được qui định một cách chính xác hơn? Ngài cho rằng: Đức Phanxicô thừa nhận quan tâm này, nên đã viết: “Tôi hiểu những ai vẫn thích lối chăm sóc mục vụ khắt khe hơn, vốn không có chỗ cho sự mơ hồ” (số 308). Tuy nhiên, ngài thách thức thái độ này bằng cách nhận xét rằng “Ta đặt quá nhiều điều kiện lên lòng thương xót đến nỗi ta làm rỗng hết ý nghĩa cụ thể và tầm quan trọng thực sự của nó. Đây là cách tệ hại nhất để làm loãng Tin Mừng” (số 311).

Ngài tin tưởng ở “niềm vui yêu thương”. Lòng yêu thương sẽ tìm ra cách. Nó là chiếc la bàn chỉ đường cho ta. Nó vừa là mục tiêu vừa là nẻo đường, vì Thiên Chúa là tình yêu và tình yêu là Thiên Chúa. Không gì đòi hỏi nhiều hơn tình yêu. Không thể nhận được nó cách rẻ tiền. Bởi thế, theo Đức Hồng Y Schonborn, không ai nên sợ điều này: với Amoris Laetitia, Đức Phanxicô muốn mời gọi ta bước theo con đường dễ dãi. Đường ngài đưa ra không dễ dãi nhưng tràn đầy niềm vui!
Tin Giáo Hội Việt Nam
Khai mạc tháng Hoa ở giáo xứ Nghĩa Thành và Phú Vinh, GP Vinh
Song Ánh Kim04/05/2016
Khai mạc tháng Hoa ở giáo xứ Nghĩa Thành và Phú Vinh, GP Vinh

Tháng Năm được Giáo Hội biệt kính Đức Trinh Nữ Vương Maria. Với lòng con thảo, nhiều giáo xứ đã tổ chức các hoạt động dâng hoa cách long trọng, sốt sắng.

Tại giáo xứ Nghĩa Thành, chương trình dâng hoa kính Đức Mẹ được chuẩn bị công phu và kỹ lưỡng. Các em Thiếu Nhi Thánh Thể được mời gọi tập luyện các tiết mục từ hai tuần trước.

Xem Hình

Đúng 19h45’ đêm 1/5/2016, tại nhà thờ giáo xứ, mọi người đã quy tụ đông đảo trước thánh tượng Mẹ để bước vào nghi thức khai mạc. Đập vào mắt mọi người tham dự là câu chủ đề của đêm dâng hoa: “Dâng Mẹ hoa tin yêu xứ đạo, dâng Mẹ nỗi khổ đau ngư dân”.

Trong lời huấn từ tại buổi dâng hoa, cha quản xứ Antôn Hoàng Trung Hoa đã nói lên truyền thống yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt của người giáo dân Việt Nam. Ngài mong muốn mọi người trong xứ đạo biết sống gắn kết với người Mẹ hiền để có chỗ dựa vững chắc trong đời sống nhiều gian nan, lắm thử thách.

Đứng trước thực trạng môi trường biển của Miền Trung ô nhiễm trầm trọng vì tập đoàn Formosa xả thải, cha Antôn cũng kêu gọi mọi người hiệp thông cầu nguyện cách đặc biệt và liên đới chia sẻ những khó khăn với anh chị em ngư dân, nạn nhân trực tiếp của thảm họa.

Sau chia sẻ của linh mục quản xứ, các đội dâng hoa lần lượt trình bày tiết mục của mình trong không khí hết sức linh thiêng, đầm ấm. Khởi đầu là phần dâng hoa của giới Hiền mẫu giáo họ trị sở, tiếp sau đó là các em thiếu nhi khối Sơ Cấp, khối Căn Bản và sau cùng là Hiền mẫu giáo họ Tân Thành, Xuân Yến.

Những bài dâng hoa uyển chuyển, nhiều sáng tạo đã nói thay tất cả tâm tình của đoàn con: Cảm tạ Thiên Chúa và Mẹ tình thương đã chở che Giáo phận, giáo xứ qua bao thăng trầm, thử thách; thân thưa với Mẹ lời xin lỗi vì những hờ hững, vô tâm; nguyện ước thuộc trọn về Mẹ mãi mãi không phút giây rời...

Tại giáo xứ Phú Vinh, các bạn trẻ Thiếu Nhi Thánh Thể đã hồ hởi tập trung tại nhà xứ để tập trung trang trí kiệu Đức Mẹ, đèn lồng, hoa nến... Điều đặc biệt năm nay là cha xứ và hội đồng mục vụ quyết định thả hoa đăng trên kênh Vách Bắc đoạn từ giáo họ Dã Sơn xuôi về các giáo họ phía Đông.

Chương trình bắt đầu vào lúc 19h30’ ngày 1/5/2016 tại nhà thờ giáo họ Dã Sơn. Đông đảo bà con giáo dân đã chỉnh tề đội ngũ để bước vào nghi thức khai mạc. Những ánh nến lung linh huyền ảo đã thắp sáng một vùng xứ đạo rồi kéo dài trên chặng đường vài cây số rước về giáo họ trị sở.

Trong đoàn rước có sự tham dự của tất cả hội đoàn trong giáo xứ: từ Thiếu Nhi Thánh Thể, hội Têrêxa, Giới trẻ, Hiền Mẫu. Tất cả đều tề chỉnh trong trang phục của hội đoàn mình.Tuy chặng đường xa nhưng trên nét mặt mỗi người không chút gì gọi là thấm mệt nhưng hồ hởi, vui tươi thể hiện tấm lòng mộ mến.

Đoàn dâng hoa sau khi tiến về nhà xứ đã tập trung lại trước cung thánh nhà thờ để dâng lên Mẹ những bông hoa tươi thắm. Chương trình dâng hoa kết thúc sau hơn một tiếng rưỡi đồng hồ. Mặc dù kết thúc nhưng đêm nay đã để lại cho mỗi một tín hữu những xúc cảm sâu lắng. Đó cũng chính là điểm khởi đầu tốt đẹp để giáo dân trong xứ sống một tháng Hoa ý nghĩa và thâu đạt nhiều kết quả thiêng liêng.

Song Ánh Kim
Hiệp hội Mến Thánh Giá Tại Thế giáo xứ Búng họp mặt tại Mến Thánh Giá Thủ Thiêm
Phượng Nguyễn04/05/2016
HIỆP HỘI MẾN THÁNH GIÁ TẠI THẾ GIÁO XỨ BÚNG HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG TẠI HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ THIÊM

Hiệp Hội Mến Thánh Gía Tại Thế Giáo xứ Búng kỷ niệm 15 thành lập Hiệp Hội, hơn 100 thành viên hoạt động tích cực nhưng âm thầm khiêm tốn, nơi xứ Búng hiền hòa, đã lên đường đi họp mặt Truyền thống lần thứ 17 tại Hội Dòng Mến Thánh Gía Thủ Thiêm lúc 7g sáng ngày 30-4-2016.

Xem Hình

Bước vào Hội Dòng, một cơ ngơi được hình thành và phát triển qua 175 năm, cho muôn người bước theo niềm tin yêu theo Linh đạo Mến Thánh Gía giữa đời, để thấy lòng rất đỗi bình yên. Không gian bao la, hình Thánh giá in bóng nền trời xanh trong, những tòa nhà rộng lớn tọa lạc trong khuôn viên, gốc me Lịch sử xanh tốt từ khi các Sơ đặt chân lên mảnh đất này đến nay, như minh chứng "Các con hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu KiTô, vì đã hiến thân trọn vẹn cho Người" (ĐC Lambert Btt4)

Cùng với Hiệp Hội Búng, có 12 Hiệp Hội gồm các giáo xứ: Xuân Thịnh, Hiền Đức, Mỹ Điền, Long Thành, Tân Vinh, Bến Gỗ, Thủ Thiêm, Ngã 6, Châu Sơn, Đội Ba và Ba Bầu- những người sống theo Linh đạo đã nhận lấy Thánh giá Chúa làm điểm tựa cho đời mình- về đây trong không khí hân hoan, hòa nhịp với bao tâm trạng náo nức trong niềm tin, cậy, mến trong tình yêu Ba ngôi Thiên Chúa.

Sau bài múa nhịp điệu "Đến với Lòng Thương Xót Chúa", cộng đoàn chào mừng 2 cha Linh hướng: Giuse Trần Đình Hiển và cha Tôma Vũ văn Long đến với ngày Họp Mặt, Dì Têrêsa Avila Bùi thị Kim Phượng- phụ trách Hiệp Hội Mến Thánh Gía Tại Thế, giới thiệu cho các anh chị em Dì Maria Nguyễn thị Ngoan- Tổng phụ trách Hội Dòng Mến Thánh Gía Thủ Thiêm.

Dì Tổng Phụ Trách chào mừng toàn thể anh chị em đã về đây họp mặt. Mọi người bắt tay nhau và giới thiệu từng Hiệp Hội trong tràng pháo tay không dứt.

Cha Tôma giảng giải về Chúa Giêsu, Đấng giàu lòng Thương Xót và Năm Thánh ngoại thường do Đức Cha Phanxicô mở ra cho mọi người hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa, liên kết với Thủ bản MTG Tại Thế để mỗi thành viên biết sống kết hiệp với Chúa, sản sinh hoa trái tình yêu cho gia đình, giáo xứ và xã hội với tất cả mọi sự đều vâng theo thánh ý Chúa.

Qua giây phút tưởng niệm Đấng Sáng lập- Đức Cha Lambert De lamote: sống tinh thần khổ giá, chu toàn, kiên trì, qua những thử thách, bệnh tật, bách hại.. . Đức Cha Labert đã triệt để tâm tình Lòng Chúa Thương Xót; Các Dì Hội Dòng MTG Thủ Thiêm kiên trì trong việc giáo dục đức tin, bảo vệ trẻ thơ, chăm sóc bệnh nhân, thăng tiến nữ giới và sống bên cạnh người nghèo; Các anh chị em Hiệp Hội sống trong tinh thần hiệp nhất yêu thương, cho lương dân mau nhận biết Chúa và bác ái với mọi người. Với tình yêu KiTô, chúng ta phục vụ và đáp trả cho tình yêu tha nhân.

Cha Tôma hướng mọi người về Đức Maria- Mẹ của Lòng Thương Xót Chúa. Mẹ đứng kề bên Thánh giá và đồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu trọn đời. Anh chị em hãy đón Mẹ về nhà mình, bắt chước các gương nhân đức của Mẹ, sống vâng phục và phó thác trong tinh thần khiêm nhu, đơn sơ như lòng Chúa mong ước.

Chương trình đố vui với chủ đề:"YÊU NHƯ CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT" qua 3 vòng thi giáo lý, và đoán hình nền" Chúa Phục Sinh" trong bầu không khí sôi nổi. Mọi người vui chơi, học ôn lại kiến thức kinh thánh, khi về đem ra thực hành trong đời sống, cho tình yêu được nhân đôi và nhân rộng theo hình Thánh giá thắp sáng ước mơ bước theo Chúa Giêsu KiTô đến trọn đời

Đỉnh cao của ngày Họp Mặt là Thánh lễ, do cha Tôma Vũ văn Long chủ tế, cha Giuse cùng đồng tế với sự tham dự của quý Sơ, quý anh chị em 12 Hiệp Hội cùng nguyện xin cho nhà dòng luôn được bình an, liên kết mọi người hiệp nhất trong tình yêu Chúa, và đặc biệt hôm nay có nghi thức Gia nhập, Khấn Tạm và Khấn Vĩnh Viễn của các anh chị em qua quá trình tham gia vào Hiệp Hội từng bước khởi đầu cho đến hôm nay cùng cất cao lời ca cảm tạ Thiên Chúa đã thương gìn giữ Hiệp Hội suốt một năm qua.

Trong bài giảng cha Tôma nhấn mạnh: vì Thương Xót nhân loại Chúa Giêsu đã chịu chết trên Thánh giá.

Hãy học cách yêu như Chúa đã yêu, biết tập tha thứ cho người khác. Tình yêu, Lòng Thương Xót, và sự tha thứ là một vòng tròn khép kín. Qua dụ ngôn của Người cha nhân hậu, Người phụ nữ ngoại tình và Chúa đã nói với Phêrô phải tha thứ cho anh em đến bảy mươi lần bảy. Đỉnh điểm của yêu thương là sự tha thứ. Người hội viên Hiệp Hội yêu Chúa Giêsu chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất và yêu kẻ thù địch, yêu cho đến tận cùng. Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, Chúa Giêsu mở rộng con tim, giang rộng đôi tay đến vô biên. Hãy nhìn vào Chúa Giêsu trong sự yêu thương và tha thứ:"Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện"(Mt5, 48)

Nghi thức Gia nhập: các anh chị em được xướng tên, đọc lời xin Gia nhập được cha Tôma và chị Tổng Phụ trách đồng ý, trao sách Phúc Âm trong tiếng thưa: Tạ ơn Chúa trong tiếng hát Kinh Cầu Các Thánh vang lên trong bầu khí sốt mến làm xốn xang tâm hồn một niềm cảm mến vô bờ.

Nghi thức khấn Tạm: qua lời đọc xin khấn của anh chị em đã được cha Tôma và Dì Tổng chấp nhận, các anh chị em nhận sách Thủ Bản làm kim chỉ nam trong đời sống mình.

Nghi thức khấn Vĩnh viễn: Các chị em mang khăn choàng cổ in hình Thánh giá, và nhận lấy cây Thánh giá làm tâm niệm sống của mình qua lời đọc xin khấn trong tình yêu òa vỡ, dâng trào xúc động. Sau phần dâng lễ vật, Hiệp lễ, Thánh lễ kết thúc trong niềm tin và hy vọng.

Các chị ăn trưa, tiếp xúc cá nhân và trở lại nhà nguyện, nghe Dì Tổng Phụ trách định hướng: mong sao các anh chị em trở nên dễ thương, dịu dàng và quảng đại khi bước về ngôi nhà nhỏ của mình, để gia đình tràn ngập tiếng cười, hạnh phúc.

Bài hát sai đi đã kết thúc buổi họp mặt hôm nay. Các Dì dâng lên quý cha món quà nhỏ để tỏ lòng biết ơn; Chị Têrêsa Trưởng các Hiệp Hội nói lời cảm ơn quý cha đã hướng dẫn mọi người sống đời Kitô hữu đích thực giữa một thế giới hận thù chia rẽ. Cám ơn chị Tổng Phụ trách, quý sơ và quý chị em đã về đây họp mặt, giao lưu, sống bên nhau như một gia đình trong tinh thần hiệp nhất yêu thương.

Đến 13g, mọi người ra về trong niềm tri ân, cảm mến nguyện cùng các hội đoàn khác xây dựng gia đình, giáo xứ để thể hiện tình yêu Thánh giá giữa đời.

Sống trong hồng ân mừng 50 năm thành lập Giáo phận Phú Cường, các anh chị em Hiệp Hội Mến Thánh giá Búng cười vui, ôm theo món quà to của nhà Mẹ trao cho, mặc cho cái nắng gắt ban trưa làm mồ hôi ướt áo. Các chị em chụp ảnh lưu niệm và ra về trong hân hoan, mang bao tin yêu dẫu cuộc sống có muôn ngàn thử thách cũng không sợ chi, vì Thánh giá Chúa làm nền cho sự hy sinh nở hoa.
Khai mạc Khóa Tĩnh huấn Giới Gia Trưởng Giáo phận Banmêthuột
Vũ Đình Bình04/05/2016
Khai mạc Khóa Tĩnh huấn Giới Gia Trưởng Giáo phận Banmêthuột - lần thứ 4

Cơn mưa "vàng" chiều qua đã mang lại không khí dịu mát cho Banmêthuột, cho Khóa Tĩnh Huấn Giới Gia trưởng Giáo phận Banmêthuột được tổ chức lần thứ 4 mang chủ đề “GIA TRƯỞNG SỐNG NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT”. Khóa tĩnh huấn được chính thức khai mạc hồi 9g15 ngày 04.5.2016 tại khuôn viên nhà thờ giáo họ Giuse, giáo xứ Thánh Tâm BMT và sẽ kết thúc vào lúc 14g00 chiều ngày 05.5.2016 trong tâm tình người gia trưởng sống bác ái yêu thương và là người cha bao dung của gia đình.

Xem Hình

Vào lúc 9 giờ sáng ngày 04.5.2016, đã có hơn 2000 gia trưởng ghi danh, tập trung, ổn định xong lều trại để chuẩn bị chào đón Đức Giám Mục Giáo phận, Quý Cha và Quý Soeurs bề trên dòng NVHB đến tham dự buổi khai mạc Khóa Tĩnh Huấn.

Lễ khai mạc diễn ra trang trọng bằng cuộc rước kiệu Thánh Giuse, bổn mạng. Tiếp đến là Lời chào mừng của Cha Trưởng ban Mục vụ Giáo dân và Bài huấn từ của Vị Cha chung, Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản, Giám mục Giáo phận.

Đức Cha rất vui mừng được gặp gỡ quý gia trưởng trong năm Lòng Thương Xót, bởi gia trưởng là trụ cột trong gia đình, gia trưởng cần được cảm nhận về Lòng Thương Xót để sống đúng tinh thần người Kitô hữu và biết chia sẻ với vợ con, với hàng xóm láng giềng. Như cơn mưa "vàng" chiều qua, chúng ta hãy cảm tạ ơn Chúa, nếu như có ai phải chịu thiệt thòi về cơn mưa ấy gây ra, chúng ta cần biết cố gắng hy sinh. Bởi, bên cạnh hồng ân, cũng có những hệ lụy không vui, nhưng vì lợi ích chung, chúng ta cần phải chấp nhận, vượt qua thử thách để sống Lòng Thương Xót như Chúa Cha. Đức Cha Vinh Sơn cầu chúc 2 ngày tĩnh huấn đầy tràn ân sủng và mang lại nhiều lợi ích để chia sẻ với nhau. (Mời nghe Huấn từ)

Đức Giám Mục Giáo phận long trọng tuyên bố khai mạc Khóa Tĩnh Huấn trong sự hân hoan phấn khởi của quý gia trưởng, tiếng vỗ tay, tiếng kèn đồng vang dội khắp một vùng.
Video: Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh: Từ thảm họa cá chết, nghĩ về vận mệnh dân tộc
VietCatholic Network04/05/2016
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
Nhân chuyến viếng thăm Australia của ngài, VietCatholic Network đã có buổi phỏng vấn Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, nguyên Giám Mục giáo phận Kontum, với những câu hỏi sau về tình hình đất nước và các sinh hoạt gần đây của Đức Cha.

1. Trước hết, nghe tin Đức Cha nghỉ hưu, nhiều người không khỏi âu lo về tình trạng sức khoẻ của Đức Cha. Rất nhiều anh chị em email hỏi thăm. Do đó, trước hết xin Đức Cha cho chúng con và quý khán thính giả biết tình trạng sức khoẻ và sinh hoạt hiện nay của Đức Cha như thế nào, thưa Đức Cha.

2. Thưa Đức Cha, vấn đề đang gây quan ngại sâu xa của nhiều người là vụ cá chết hàng loạt ở vùng duyên hải miền Trung. Đức Cha mới ở Việt Nam sang, xin Đức Cha chia sẻ với chúng con và quý khán thính giả những thực tại Đức Cha chứng kiến và những suy tư của ngài về tầm vóc nghiêm trọng của vấn đề trước mắt cũng như trong tương lai. Xin mời Đức Cha.

3. Thưa Đức Cha, qua nhiều lá thư ngỏ gởi cho nhà cầm quyền tại Việt Nam, Đức Cha đã bày tỏ những trăn trở của ngài trước tiền đồ của đất nước và dân tộc. Qua vụ Formosa này, có lẽ Đức Cha còn âu lo hơn, xin Đức Cha chia sẻ với chúng con và quý vị khán thính giả những ưu tư của ngài về tương lai của đất nước.

VietCatholic cám ơn Đức Cha đã dành thời gian cho buổi phỏng vấn này. Xin kính chúc Đức Cha dồi dào sức khoẻ và muôn ơn lành của Chúa Phục sinh.
Bênh vực công lý và Giáo Hội
Kình ngư cáo trạng
Lê Đình Thông04/05/2016
Kình Ngư Cáo Trạng

Ngoài Hà Tĩnh đất bằng nối sóng
Cá kình ngư mau chóng phơi thây
Nằm lăn trên cát đọa đầy
Trăm ngàn cá biển đó đây lềnh bềnh

Vì đảng ủy làm nên nông nỗi
Bán quê hương tội lỗi ngập trời
Dân chài đói khát tả tơi
Cá nằm bãi cát chết trôi biển ngoài

Còn đâu dải sơn hà nướcViệt
Đảng dâng cho bọn Chệt bạo tàn
Thải bao chất đôc tràn lan
Ngư dân lâm cảnh lầm than đói nghèo

Này giặc cộng cá kèo nằm chết
Là cáo trạng chấm hết vàng sao
Phen này lãnh đạo lao xao
Lo mà tháo chạy dân ngao ngán rồi !

Paris, ngày 04/05/2016
Lê Đình Thông
Phụng Vụ - Mục Vụ
Suy niệm Chúa nhật VII Phục Sinh Năm – C
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ04/05/2016
Chúa Giêsu Hằng Cầu Thay Nguyện Giúp Cho Chúng Ta

Suy niệm Chúa Nhật VII Phục Sinh Năm – C

( Ga 17, 20-26 )

Toàn bộ Phúc Âm thánh Gioan chương 17 là diễn từ ly biệt, được kết thúc bằng kinh nguyện vô cùng cảm động của Chúa Giêsu dâng lên Cha. Kinh nguyện mở đầu bằng lời khẩn cầu danh Cha, ca tụng Ngôi Cha và Ngôi Con (câu 1-5). Chúa Giêsu xin "Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17, 1).

Tiếp theo là những lời Đức Giêsu xin cho các môn đệ : "Lạy Cha…xin hãy gìn giữ trong danh Cha những kẻ Cha đã ban cho Con" (Ga 17, 11). Thứ đến là những kẻ nhờ các Tông đồ mà tin vào Chúa là chúng ta, được Chúa lưu tâm đặc biệt trong lời nguyện hiến tế hôm nay : "Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho tất cả những kẻ, nhờ chúng mà tin vào con, để mọi người nên một cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để cả chúng cũng nên một trong Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Ga 17, 20-26 ).

Chúng ta là đối tượng trong "lời nguyện hiến tế của Chúa Giêsu". Người đặc biệt quan tâm đến sự hiệp nhất của chúng ta, vì hiệp nhất làm cho chúng ta nên "một" : " Để cả chúng cũng nên một trong Ta" (Ga 17,22). Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng nói: "Vậy làm thế nào chúng ta có thể, nếu, không làm cho thế giới biết được Thiên Chúa là Tình Yêu? Chúng ta chia rẽ, thì làm sao chúng ta có thể là người đáng tin cậy được?" Lời chứng về Tình Yêu là một bằng chứng mạnh mẽ hùng hồn nhất để thuyết phục thế giới. Chia rẽ giữa các cộng đoàn kitô là gương mù gương xấu cần vượt thắng. Vì chia rẽ làm suy yếu sự đáng tin, và hiệu lực dấn thân rao giảng Tin Mừng của chúng ta và có nguy cơ làm trống rỗng quyền năng của Thập Giá Chúa.

Chúa Giêsu xin cùng Chúa Cha cho tất cả mọi người đã được rửa tội hiệp nhất theo ý muốn : "Xin Cha cho chúng nên một" (Ga 17,21). Thánh Phaolô đã từng cật vấn các tín hữu ở Corintô : "Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?" (1Cr 1,13). Đức Thánh Cha Phanxicô nói: "Chắc chắn Chúa Kitô không bị chia năm xẻ bảy. Nhưng với đau khổ, chúng ta phải thừa nhận cách thành thật rằng cộng đoàn của chúng ta đang tiếp tục sống chia rẽ, đó là những gương xấu".

Thiền Chúa là Tình Yêu. Tình yêu thì luôn luôn hiệp nhất, do đó, chia rẽ không phải là dấu chỉ của Tình Yêu. Trong hiên Chúa, nơi Ngài không có sự chia rẽ. Chúng ta chiêm ngắm thái độ của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi : Ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, "Hết thảy họ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, và Maria, mẹ Ðức Yêsu và các anh em Người" (Cv 1,14). Đó là bầu khí của Thánh Thần đã vang lên một tiếng động lớn và toàn thế giới đã kinh ngạc (x.Cv 2,6).

Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ còn xin cùng Chúa Cha cho chúng ta nên một để Người ở đâu thì chúng ta cũng ở đó với Người hầu chiêm ngưỡng vinh quang của Người (Ga 17,24). Người yêu mến chúng ta như Chúa Cha đã yêu mến Người và Người muốn ban cho chúng ta tất cả những gì Chúa Cha đã ban cho Người. Vinh quang Người có được từ nơi Cha, đến lượt Người, Người muốn ban cho chúng ta, và làm cho chúng ta nên một. Người muốn rằng, chúng ta không phải là nhiều nhưng làm thành một, hiệp nhất với thần tính của Người trong vinh quang Nước Trời, không phải sát nhập thành một bản thể duy nhất, nhưng trong sự hoàn hảo, tột đỉnh của nhân Đức Tin, Cậy, Mến. Đây là những gì Chúa Kitô đã tuyên bố khi Người nói: "Để chúng được hoàn toàn nên một!" (Ga 17,22).

Theo cách này mà tất cả chúng ta sẽ trở nên một với Chúa Cha và Chúa Con. Vì Chúa Giêsu nói : "Ta và Cha, Chúng Ta là một" (Ga 10,30). Giống như Người cầu nguyện cho những ai bắt chước mình, chúng ta tham dự vào chính sự hiệp nhất… Không phải sự hiệp nhất về bản tính tự nhiên mà Người có với Chúa Cha, nhưng điều này: như Cha đã làm cho Người tham dự vào vinh quang của riêng mình, Người cũng vậy, theo gương Chúa Cha, sẽ hiệp nhất vinh quang của Người với những kẻ mà Người thương mến.

Sau khi Chúa Giêsu về Trời, Các thánh Tông Đồ đã qui tụ bên Đức Maria để cầu nguyện, noi gương các ngài, chúng ta cũng hãy hăng hái chuẩn bị sẵn sàng, cầu nguyện và thực hành đức bác ái, đón Chúa Thánh Thần, Đấng từ Chúa Cha hiện xuống trên chúng ta, và thưa với Chúa : « Lạy Chúa, con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài lắng nghe, alléluia ; hồn con thưa cùng Chúa : mắt con tìm kiếm thánh nhan Ngài, lạy Chúa, con tìm kiếm Chúa, xin đừng ẩn mặt, alléluia, alléluia.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu xin cho chúng con được hiệp nhất. Xin cho chúng con biết thể hiện tinh thần hiệp nhất giữa chúng con bằng sự biết cộng tác với nhau trong những việc làm chung, để xây dựng nhiệm thể cộng đoàn nhỏ bé, trong tình huynh đệ tương thân tương ái. Chúng con tin tưởng vào lời Chúa hứa mà chúng con đã đọc trước bài Tin Mừng, đó là được ở với Chúa đến muôn đời. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Suy niệm lễ Thăng Thiên
Lm. Antôn Trung Thành04/05/2016
Suy Niệm LỄ THĂNG THIÊN C

Con người qua mọi thời đại vẫn có những người không tin có đời sau, không tin có Thiên Đàng. Nhưng với chúng ta là những người Kitô hữu, chúng ta tin có sự sống đời sau, tin có Thiên Đàng. Chúng ta tuyên xưng niềm tin đó qua Kinh Tin Kính : “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy”. Vậy, Thiên Đàng là gì? Ai nói với chúng ta về Thiên Đàng? Làm thế nào để được lên Thiên Đàng?

1. Thiên Đàng là gì?

Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, và đã hoàn toàn được thanh tẩy, sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa, vì họ thấy Ngài “Đúng như Ngài là” (1Ga 3,2), “Mặt giáp mặt”, không qua trung gian của một tạo vật nào hết. Sự sống hoàn hảo như thế với Ba Ngôi cực thánh, sự hiệp thông về sự sống và tình yêu với Chúa Ba Ngôi, với Trinh Nữ Maria, các Thiên thần và tất cả các Thánh, được gọi là “Thiên Đàng”. Như vậy, Thiên Đàng là cùng đích tối hậu và là sự thực hiện những khát vọng sâu xa nhất của con người, đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn (x. GLHTCG số 1023-1024).

2. Ai nói với chúng ta về Thiên Đàng?

“Kinh Thánh nói về Thiên Đàng qua những hình ảnh: sự sống, ánh sáng, bình an, bữa tiệc cưới, rượu của Nước Trời, nhà Cha, thành Giêrusalem trên trời, Thiên Đàng: Mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài” (x. GLHTCG số 1027). Trong ba năm sống công khai, Chúa Giêsu bằng cách này hay cách khác đã nói với nhân loại về Thiên Đàng. Xin được đơn cử một số dẫn chứng sau đây: Ngài khẳng định : "Tôi tự trời mà xuống" (Ga 6,38); Ngài còn nói với người Do-Thái rằng: "Các ông bởi hạ giới; còn Tôi, Tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này; còn Tôi, Tôi không thuộc về thế gian này" (Ga 8,23); Khi đưa các Tông đồ lên núi Taborê, Ngài đã hé mở vinh quang Thiên Đàng cho các Tông đồ thấy; Ngài kể dụ ngôn người phú hộ và ông Lazarô để nói lên số phận khác biệt giữa hai người là Thiên Đàng và Hoả Ngục (x. Lc 16, 19-31); Ngài còn nói: “Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở”(Ga 14,2); Đặc biệt, trên Thánh giá, Ngài nói với kẻ trộm lành rằng: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23,43)…

Thánh Phaolô thì khẳng định : “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta, nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21). Sách Khải Huyền cũng diễn tả về hạnh phúc Thiên Đàng như sau: “Bấy giờ Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Chính bài đọc I và bài Tin mừng hôm nay, cũng cho chúng ta thấy việc Chúa Giêsu rời các Tông đồ mà lên trời (x. Cv 1,11; Lc 24, 51). Như vậy, chính những lời của Chúa Giêsu và các Tông đồ làm chứng cho chúng ta có Thiên Đàng.

3. Làm thế nào để được lên Thiên Đàng ?

Có nhiều cách để lên Thiên Đàng, xin được gợi ý một số cách thế sau đây:

Thứ nhất, xa tránh tội lỗi. Có những vị thánh sống trên đời này không hề phạm bất cứ một tội trọng nào, chẳng hạn: Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu; Thánh Louis Gonzaga, Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse…Đúng như thánh vịnh 15 diễn tả: Đó là những “Kẻ sống vẹn toàn, luôn làm điều ngay thẳng, bụng nghĩ sao nói vậy, miệng lưỡi chẳng vu oan, không làm hại người nào, chẳng làm ai nhục nhã. Coi khinh phường gian ác, trọng ai kính CHÚA TRỜI, lỡ thề mà bị thiệt, thì cũng chẳng rút lời, cho vay không đặt lãi, chẳng nhận quà hối lộ mà hại đến người ngay. Phàm ai làm những điều này không hề nao núng chuyển lay bao giờ” (Tv 15, 2-5).

Thứ hai, thống hối ăn năn tội. Bản chất của con người là yếu đuối, hay nghiêng chiều về sự dữ, nên con người thường sa ngã phạm tội. Vì thế, tội lỗi như là rào cản lớn nhất làm cho con người không đến được với Thiên Chúa. Đó cũng là rào cản không cho phép con người lên Thiên Đàng. Chính vì vậy, để đến với Chúa, để được lên Thiên Đàng, con người cần phải cố gắng xa tránh tội lỗi. Thánh Gioan khuyên dạy chúng ta “Đừng phạm tội nữa"(x. 1Ga 2,1). Bởi vì: "Ai phạm tội thì là người của ma quỷ, vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu. Sỡ dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá công việc của ma quỷ"(1 Ga 3,8). Nhưng Ngài vẫn biết, con người không dễ gì mà làm được điều đó, vì bản tính con người yếu đuối dễ sa ngã phạm tội, nên Ngài khuyên chúng ta hãy đến với Bí tích Giao hoà để được khỏi tội: "Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng bảo trợ trước mặt Chúa Cha, đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính. Chính Đức Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta, mà còn vì tội lỗi cả thế gian nữa"( 1 Ga 2,1).

Thực tế cho chúng thấy có rất nhiều tội nhân, nhờ thống hối ăn năn trở về với Thiên Chúa nên đã được lên Thiên Đàng, các Ngài trở thành thánh, nghĩa là trở nên gương mẫu cho mọi người chúng ta noi theo, ví dụ: Kẻ trộm lành, Thánh Maria Mađalêna, Thánh Augustinô, thánh Phêrô...

Thứ ba, yêu thương anh em. Yêu thương là chu toàn lề luật. Yêu thương nhau là thực hiện lệnh truyền của Chúa Giêsu. Trong ngày phán xét chung, Chúa Giêsu, vị thẩm phán chí công sẽ dựa vào điều này như là tiêu chuẩn, là giấy thông hành để nhận hay không nhận chúng ta vào Thiên Đàng (x. Mt 25, 31- 46).

Bởi vì: Ai yêu thương thì đi trong ánh sáng (x. 1Ga 2,9), đi trong ánh sáng thì chắc chắn sẽ đến cùng Thiên Chúa là nguồn gốc của ánh sáng. Ánh sáng đó chính là Thiên Đàng. Còn ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối (x. 1Ga 2,9-10), đi trong bóng tối là đi theo đường lối của ma quỷ và chắc chắn sẽ không thể tìm thấy ánh sáng vĩnh cửu trên Thiên Đàng.

Yêu thương là dấu chỉ của sự sống thiêng liêng. "Chúng ta biết rằng : Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương nhau" (1 Ga 3,14).

Yêu thương là dấu chỉ của người môn đệ Chúa, chính Chúa Giêsu đã khẳng định điều đó, Ngài nói: "Cứ dấu này mà mọi người nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em yêu thương nhau" (Ga 13,35).

Như vậy, ở đâu có tình yêu thì ở đó có Thiên Chúa, và ở đâu có Thiên Chúa thì ở đó có Thiên Đàng. Trên Thiên Đàng người ta sống bằng Tình Yêu.

Khi nói về sự khác nhau ở Thiên Đàng và Hoả Ngục, người ta tưởng tượng câu chuyện sau đây: Cả Thiên Đàng và Hỏa Ngục đều dùng bữa với thức ăn như nhau trong một khung cảnh giống hệt nhau, trong đó mỗi người phải dùng một đôi đũa dài cả thước để ăn. Trên Thiên Đàng mọi người không tự gắp thức ăn cho mình, mà lại gắp thức ăn cho người khác. Vì thế, ai cũng ăn được no. Còn những người trong hỏa ngục thì chỉ biết nghĩ đến mình, chỉ biết gắp thức ăn đút vào miệng mình, mà đũa thì dài nên chẳng ai có thể đút được thứ gì vào miệng mình. Thế nên ai cũng đói, đến khi hết giờ ăn mà họ vẫn cứ đói, vì thế nên họ chỉ biết gây gỗ và căm thù nhau.

Thứ tư, chu toàn bổn phận loan báo Tin mừng. Chúa Giêsu đã lên trời sau khi chu toàn bổn phận Chúa Cha trao phó. Mỗi người kitô hữu chúng ta muốn được lên Thiên Đàng cũng phải chu toàn bổn phận Chúa Giêsu trao phó. Đó chính là bổn phận loan báo Tin mừng. Trước khi về trời Chúa Giêsu nói với các Tông đồ rằng : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,17). Như vậy, loan báo Tin Mừng là lệnh truyền. Lệnh truyền thì bắt buộc người thừa lệnh phải tuân giữ. Công đồng Vatican II khẳng định: “Loan báo Tin mừng là bản chất của Giáo Hội Chúa Kitô” (x. Sắc lệnh Ad Gentes, số 4;16) và đó cũng là bản chất của mỗi người kitô hữu chúng ta. Chúng ta hãy chu toàn bổn phận đó trong gia đình và nơi mọi môi trường chúng ta sống: Vợ chồng loan báo Tin mừng bằng cách hãy Phúc Âm hoá đời sống gia đình bằng cách chu toàn bổn phận yêu thương, chung thuỷ, sinh sản và giáo dục con cái. Giáo viên, học sinh, sinh viên loan báo Tin mừng bằng cách hãy Phúc Âm hoá trường học. Công nhân viên chức, bác sỹ, y tá loan báo Tin mừng bằng cách hãy Phúc Âm hoá công sở, bệnh viện…Tóm lại, dù ở đâu, trong cương vị nào chúng ta hãy trở thành những cuốn Tin Mừng sống để qua chúng ta mọi người nhận biết Chúa và được lãnh nhận ơn cứu độ. Bởi vì, Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4).

Chúa Giêsu đã từng nói: “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11,12). Đó chính là sức mạnh của sự gìn giữ mình vô tội. Đó là sức mạnh của sự hy sinh từ bỏ tính mê nết xấu tội lỗi. Đó là sức mạnh của yêu thương tha thứ. Đó là sức mạnh của việc chu toàn bổn phận loan báo Tin mừng. Xin cho mỗi người chúng ta biết cố gắng gìn giữ mình khỏi mắc tội, nhưng nếu sa ngã phạm tội thì hãy cố gắng thống hối ăn năn, đồng thời biết sống yêu thương tha thứ và chu toàn bổn phận loan báo Tin mừng để ngày sau được lên Thiên Đàng. Amen

Lm. Anthony Trung Thành
Tài Liệu - Sưu Khảo
Mừng kính Chúa Giêsu lên trời
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long04/05/2016
Mừng kính Chúa Giêsu lên trời

Hằng năm toàn thể Hội Thánh Công Giáo mừng lễ Đức Chúa Giêsu lên trời.

Vậy đâu là nguồn gốc lịch sử và đức tin của ngày lễ mừng này?

Trong kinh Tin Kính chúng ta đọc tuyên xưng: „ Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha.“.

Lời tuyên xưng đức tin đặt trên nền tảng lời Kinh Thánh thuật lại trong Phúc âm theo thánh Luca 24, 50-53 và nơi sách Công vụ Tông Đồ 1, 1-11.

Cả hai đoạn Kinh Thánh thuật lại thời điểm cùng cung cách và nơi chốn Chúa Giêsu lan trời: 40 ngày sau khi Chúa Giêsu sống lại, ở thành Gierusalem, có đám mây quyện cất cùng hai Thiên Thần hộ vệ đưa Chúa Giêsu lên trời cao.

Lễ Chúa Giêsu lên trời có ý nghĩa sâu rộng trong đức tin đạo Công Giáo về khía cạnh thần học ngày cánh chung, ngày sau cùng.

Thánh Phaolô trong thư gửi Gíao đoàn Philippe đã viết về việc Chúa Giêsu được Thiên Chúa Cha cắt nhắc đưa lên cao:

„ Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập gía. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. „ ( Pl 2,8-9)

Đức tin vào Chúa Giêsu lên trời ngay vào thời khởi đầu Kitô giáo đã được cáo Giáo phụ viết trong các bản văn như nơi Giáo phụ Polykarp thành Smyrna, Justin và Irene thành Lyon.

Từ thế kỷ thứ ba sau Chúa Giêsu giáng sinh đã nói đến Chúa Giêsu lên trời trong Hội Thánh Công Giáo Roma. Đến năm 325 và năm 381 dựa trên nền tảng đó, Kinh tin kính các Thánh Tông đồ và Công đồng Nicea đã viết lại thành văn bản tuyên tín:
Lateinisch:
„et resurrexit tertia die secundum scripturas,
et ascendit in cælum,sedet ad dexteram Patris,
et iterum venturus est cum gloriaiudicare vivos et mortuos,
cuius regni non erit finis;“

„ Ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng tận.“

Phụng vụ lễ trọng mừng kính Chúa Giêsu lên trời có từ năm 383 ở Gierusalem. Dựa theo phúc âm Thánh Luca, lễ mừng kính vào ngày thứ Năm, 40 ngày sau lễ Chúa Giêsu phục sinh, và 10 ngày trước lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống.

Theo tập tục nếp sống từ xưa bên Âu Châu, ba ngày trước lễ mừng Chúa Giêsu lên trời là ba ngày rước kiệu cầu mùa. Khi đi rước kiệu qua cánh đồng, qua khu nhà cửa sinh sống, kinh cầu các Thánh được đọc xướng xin chúc lành của Chúa qua lời chuyển cầu của các Thánh cho mùa màng, cho đời sống con người.

Ỏ Gierusalem trên vùng núi cây dầu có nhà nguyện Chúa Giêsu lên trời. Tương truyền nơi đó ngày xưa Chúa Giêsu đã đứng khi lên trời. Trong ngôi nhà nguyện bây giờ thuộc Hồi Giáo có dấu vết chân Chúa Giêsu đứng còn in trên mặt đất khi Người về trời.

Lễ mừng kính Chúa Giêu lên trời là lễ mừng hướng lên trời cao. Trời cao không chỉ nơi trên cao, nhưng trời che phủ, nâng đỡ mặt đất.

„ Phải chăng tôi cho rằng tôi phải chống đỡ trời, hay tôi nhận ra rằng trời che chở nâng đỡ tôi? Người nào tin tưởng rằng trời che chở năng đỡ mình, người đó đang gần sát với nền tảng căn bản đời sống của mình. Và từ căn bản đó, tâm trí đầu óc, trái tim tâm hồn, chân tay thân thể họ được tự do bằng an trong cung cách nếp sống tình liên đới với mọi người.“ ( F. Kamphausen).

Lễ Chúa Giêsu lên trời 2016
Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long
Bài nói chuyện với quý chủng sinh khoá XI– ĐCV Vinh Thanh
Lm. Anthony Trung Thành04/05/2016
bài nói chuyện với quý chủng sinh khoá xi – đcv vinh thanh

Ngày 03 tháng 05 năm 2016

Khi được Cha phó Giám Đốc Chủng Viện đề nghị chia sẻ với quý thầy sắp ra trường về một số kinh nghiệm mục vụ Giáo xứ. Lúc đầu, tôi thấy ngại, nhưng sau khi suy nghĩ và cầu nguyện tôi tự nhủ: Nếu chia sẻ kiến thức cho các thầy thì mới ngại, còn chia sẻ về kinh nghiệm mục vụ thì chắc chắn có nhiều điều để nói. Lợi thế ở chỗ là quý thầy chưa bao giờ làm cha xứ, còn tôi ít nhất cũng đã có một thời gian dài mục vụ Giáo xứ, nên tha hồ mà “nói khoác”. Trong khuôn khổ của buổi chia sẻ này, được sự gợi ý của Cha Phó Giám Đốc Phêrô, tôi xin được nêu lên bốn điểm chính sau đây: Tổ chức Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ; Các giới, các hội đoàn và ban đoàn; Tư cách của Cha xứ; Cha xứ với vấn đề của cải vật chất.

Trước khi đi vào những điểm trên chúng ta phải hiểu: Giáo xứ là gì? “Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thành lập cách bền vững trong Giáo Hội địa phương và việc săn sóc Mục Vụ được uỷ thác cho Cha Sở làm chủ chăn riêng dưới quyền của Giám Mục Giáo Phận” [1]. Để việc săn sóc mục vụ có kết quả, thông thường khi mới về nhận nhiệm sở: Cần dành thời gian để tìm hiểu phong tục, tập quán, con người tại Giáo xứ đó; Cần tiếp tục duy trì những sinh hoạt bình thường của cha tiền nhiệm; Tập quan sát và lắng nghe nhiều hơn nói: Lắng nghe từ quý vị Ban Hành Giáo; từ phía những người giáo dân, nhất là những người khôn ngoan trong xứ; lắng nghe các linh mục đàn anh, nhất là các linh mục đang làm mục vụ bên cạnh Giáo xứ của mình. Sau một thời gian, ít nhất là 3 tháng mới có những kế hoạch mục vụ cụ thể cho Giáo xứ.

I. HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ (HĐMVGX)

Thành phần cần phải quan tâm trước hết, đó là HĐMVGX. Đây là thành phần nòng cốt và hết sức quan trọng trong Giáo xứ. Họ là cánh tay nối dài của cha xứ. Họ có thể thay cha xứ để truyền đạt và điều hành những công việc mục vụ trong giáo xứ. Bởi vì, “Họ được mời gọi và tuyển chọn để cộng tác với cha xứ trong việc quản trị, tổ chức và điều hành các sinh hoạt mục vụ, xây đắp tình liên đới và sự hiệp thông, giải quyết những vấn đề thuộc giáo xứ, giải toả những bất đồng nhằm góp phần xây dựng giáo xứ thành một cộng đoàn tư tế phụng thờ Thiên Chúa. Sống làm chứng và loan truyền Tin Mừng, yêu thương và phục vụ cho sứ sống và phẩm giá con người trong bối cảnh văn hoá xã hội ngày nay” [2]. Mới về nhận nhiệm sở, cần tiếp tục duy trì HĐMVGX mà Cha xứ tiền nhiệm và cộng đoàn bầu lên. Nếu HĐMVGX đã hết nhiệm kỳ thì cũng cần một thời dài tìm hiểu mới có thể tổ chức bầu cử. Khi cần bầu lại HĐMVGX thì phải lưu ý những điểm sau đây:

1. Tuyển chọn:

Tiêu chuẩn: (1) Là tín hữu đã lãnh nhận Bí tích Thêm sức, là giáo dân trong Giáo xứ có đời sống gương mẫu, phù hợp với Giáo luật. (2) có những đức tính căn bản cần cho chức vụ, có tinh thần phục vụ và tinh thần tập thể cao. (3) Có sức khoẻ đảm bảo, trình độ văn hoá và một số khả năng cần cho chuyên môn. (4) Có tinh thần hy sinh cho lợi ích của Giáo Hội. (5) Tuổi lý tưởng nhất là 30-60 [3].

Trên đây là tiêu chuẩn lý tưởng để tuyển chọn thành viên của HĐMVGX. Nhưng trong thực tế, không phải ở giáo xứ nào cũng có điều kiện để tuyển chọn được những người lý tưởng như vậy, nhất là những giáo xứ có ít giáo dân. Vì vậy, “Cần tuỳ cơ ứng biến”. Nhưng khi có điều kiện để chọn lựa thì nên ưu tiên những người biết sống đạo gương mẫu, có tính tập thể cao, biết hy sinh vì lợi ích của Giáo Hội. Bởi vì, những vị như vậy mới có thể nối kết được với những thành phần khác và hy sinh phục vụ Giáo xứ. Ngoài ra, để tránh được tình trạng lẫn lộn giữa đạo và đời, không nên đưa những người đang làm việc cho xã hội như thành viên trong ban mặt trận tổ quốc, uỷ ban đoàn kết…vào trong HĐMVGX.

2. Cách thức tuyển chọn:

a) Đề cử: Để việc bầu cử được diễn ra tốt đẹp, khâu đề cử hết sức quan trọng. Các nhân sự được đề cử từ hội nghị được mở rộng của Giáo xứ hoặc được đề cử từ các cơ sở của Giáo họ. Linh mục quản xứ và HĐMVGX có trách nhiệm xét duyệt, đúc kết và y duyệt trước khi được bầu.

Để tránh những rắc rối về sau, trước khi lên danh sách bầu cử lần cuối cùng, cha xứ cần gặp gỡ từng vị để hỏi ý kiến họ: Nếu trúng cử họ có sẵn sàng làm việc không?

Sau đó, niêm yết hoặc thông báo rộng rãi với giáo dân trong các dịp lễ Chúa Nhật hay lễ lớn khác, ít là hai tuần trước khi bầu chọn [4].

b) Bầu Cử: Thiết lập ban bầu cử, ban kiểm phiếu: công minh, đáng tin cậy.

Cách thứ nhất: Mỗi người trong Giáo xứ tuổi từ 18 trở lên được đi bầu.

Cách thứ hai: Đại diện các gia đình đi bầu.

Cách thứ ba: Đại diện các tổ liên gia và các ban ngành chủ chốt trong Giáo xứ, các Giáo họ đi bầu.

Có thể bầu từng chức vụ hoặc bầu ra 5/7 vị có số phiếu cao nhất, sau đó cha xứ phân công các chức vụ trong Ban sao cho phù hợp với khả năng chuyên môn của từng người.

Ngoài ra, cần tuyển chọn và bầu cử các uỷ viên khác như: Ban Mục Vụ, Ban Phụng vụ, Ban Giáo Lý, Phụ trách các giới, phụ trách các hội đoàn [5].

3. Mối quan hệ giữa Cha xứ và HĐMVGX [6]

a) Cha xứ cần gần gũi để hướng dẫn và giúp đỡ các thành viên trong HĐMVGX thi hành nhiệm vụ.

b) Cha xứ cần điều hành các buổi họp quan trọng của Giáo xứ, nhất là những buổi họp thường niên để vạch ra những chương trình và những phương án cụ thể cho cộng việc mục vụ trong Giáo xứ: Ba tháng, sáu tháng, một năm, một nhiệm kỳ hoặc xa hơn nữa. Cần có những cuộc họp trước và sau các ngày lễ lớn hoặc khi có các công việc ngoại thường để phân chia phân nhiệm cách cụ thể, chu đáo. Sau các công việc, cần ngồi lại để đánh giá ưu khuyết điểm để rút ra những bài học cho những lần tổ chức sau.

c) Để các cuộc họp được chu đáo và thành công, cần có các bước sau đây:

* Cha xứ báo cho thư ký biết nội dung cuộc họp sắp tới để vị thư ký soạn thảo chương trình.

* Cha xứ duyệt lại và hoàn thiện nội dung chương trình.

* Quy định thời gian và địa điểm cuộc họp.

* Cha xứ cần tạo bầu khi đối thoại, hợp tác trong tình liên đới và hiệp nhất huynh đệ.

* Bám sát nội dung để giải quyết mọi vấn đề một cách dứt khoát, tránh tình trạng “đánh trống bỏ dùi”.

* Cha xứ cần làm chủ thời gian cuộc họp đã quy định, nếu kéo lê thời gian sẽ làm cho các tham dự viên nhàm chán.

* Cha xứ cần lắng nghe ý kiến của HĐMVGX và các thành viên trong cuộc họp để giải quyết mọi vấn đề trong tinh thần hiệp nhất.

d) Cha xứ cần dành thời gian để ân cần giúp các thành viên trong HĐMVGX về đời sống thiêng liêng. Thỉnh thoảng cần viếng thăm gia đình của các vị, nhất là trong những dịp đặc biệt: Ngày lễ, dịp tết, dịp vui buồn của gia đình họ. Cần có khoản thù lao cân xứng, nhất là những vị dành nhiều thời gian cho cộng việc Giáo xứ (Vd: Những vị dạy giáo lý dự tòng, hôn nhân quanh năm).

e) Ngoài ra, cha xứ cần giúp họ về lĩnh vực chuyên môn: Ghi chép sổ sách, giấy tờ, soạn thảo các chương trình, viết các bài cám ơn, soạn lời nguyện giáo dân…Để cho các thành viên có thể trưởng thành hơn trong cộng việc, Cha xứ nên hướng dẫn chứ không làm thay.

f) Cha xứ đừng “bao sân” quá, nhất là trong các công việc thuộc về chuyên môn của giáo dân (Vd: xây dựng).

II. CÁC GIỚI, CÁC HỘI ĐOÀN VÀ BAN ĐOÀN

Giáo xứ nào có nhiều hội đoàn, ban đoàn, các giới được sinh hoạt một cách quy cũ sẽ giúp ích nhiều cho cha xứ trong việc mục vụ.

1. Các giới: Cha xứ cần phân chia giáo dân trong giáo xứ mình thành các giới: Giới phụ lão, giới gia trưởng, giới hiền mẫu, giới trẻ, giới thiếu nhi…Mỗi giới cần có ban điều hành, có người phụ trách và có những chương trình sinh hoạt cụ thể trong năm. Những dịp làm phúc hoặc lễ bổn mạng của các giới, cha xứ cần dành thời gian để tĩnh tâm và chia sẻ riêng cho họ. Ngoài ra, để thuận tiện cho việc giảng dạy và hướng dẫn, cần có thánh lễ ngày Chúa Nhật riêng cho Phụ huynh, Giới trẻ và Nhi đồng.

2. Các hội đoàn: Giáo xứ càng có nhiều hội đoàn thì công việc mục vụ của cha xứ càng thuận tiện và giúp giáo dân sống đạo trưởng thành hơn. Hiện nay, trong Giáo phận chúng ta có sự hiện diện rất nhiều hội đoàn: Hội Lêgiô, Dòng Phansinh Tại Thế, Gia đình Thánh Tâm, Hội Mân Côi, Gia Đình Khôi Bình, Hội Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Con Đức Mẹ, Hội Têrêxa… Nếu trong Giáo xứ chưa có hoặc thiếu các hội đoàn, cha xứ cần tìm cách để thiết lập. Nếu trong Giáo xứ đã có các hội đoàn, cha xứ cần phải đồng hành và giúp đỡ họ duy trì và phát triển. Để đồng hành với các hội đoàn, cha xứ cần tìm hiểu về tôn chỉ và mục đích của hội đoàn họ. Nên nhớ: Thiết lập thì dễ, duy trì mới khó nên cha xứ phải luôn cố gắng kiên trì.

3. Các ban đoàn: Ca đoàn, nhạc đoàn (kèn, trống)… Đây là thành phần đóng góp cho các cuộc lễ lớn tăng thêm lòng sốt sắng và long trọng. Cha xứ cần thường xuyên quan tâm, thăm hỏi, động viên khích lệ, nhất là vào các dịp lễ lớn.

4. Các hội và các ban khác:

Cần thiết lập các hội và các ban đoàn sau đây:

a) Hội khuyến học: Giúp nâng đỡ con em trong giáo xứ học giáo lý và văn hoá.

b) Hội Doanh nghiệp: Giúp họ liên kết với nhau để làm giàu, tập cho họ biết hy sinh quảng đại chia sẻ phần mình cho những người nghèo, người kém may mắn.

c) Hội Tu sĩ Nam Nữ, chủng sinh: Cha xứ nhắc nhở, động viên, nhất là vào các dịp tết, dịp hè. Cần có những hoạt động cụ thể để tập cho họ hy sinh và phục vụ giáo xứ nhiều hơn.

d) Hội Sinh Viên: Tạo sân chơi lành mạnh cho họ, đặc biệt cần tổ chức các lớp học hè để người đi trước nâng đỡ người đi sau.

e) Hội Cha mẹ có con đi tu: Vinh dự đi liền với trách nhiệm. Vì vậy, cha xứ thường xuyên giúp họ nhận ra vai trò và trách nhiệm của mình đối với con cái, đồng hành với con cái, nhất là trong lời cầu nguyện.

f) Hội công nhân viên chức: Gặp gỡ, tĩnh tâm và giúp họ sống chứng nhân trong các môi trường làm việc, tạo cơ hội để họ hy sinh phục vụ Giáo xứ.

g) Ban bác ái (Caritas): Tạo cơ hội cho giáo dân đóng góp phần ít ỏi của mình trong công việc bác ái, cha xứ cần giải thích để giáo dân hiểu nhiệm vụ này.

h) Ban An Ninh: Giúp giữ gìn trật tự trong giáo xứ, đặc biệt trong các dịp lễ lớn. Tuy nhiên, cha xứ phải hướng dẫn về quyền hạn của họ để tránh tình trạng “lạm dụng quyền”.

III. TƯ CÁCH CỦA CHA XỨ

A. Cần có một quy luật sống cho mình:

1. Cha xứ luôn phải nhớ rằng mình là linh mục vừa để cứu linh hồn người ta, vừa để lo cho mình nên thánh. Do đó, phải sẵn lòng hy sinh chịu khó làm việc bổn phận, làm hết sức lo cho linh hồn mình. Về việc này cần phải “Bác ái với mình trước, sau đó mới khi bác ái với người khác”. Vì thế, linh mục cần có quy luật sống cho mình [7].

2. Trong quy luật sống, linh mục cần đặt nguyện ngắm và kiểm điểm bản thân lên hàng đầu. Các việc thiêng liêng khác cũng phải được ưu tiên, thứ đến là các việc tìm tòi nghiên cứu về mục vụ [8].

Dành thời gian nhiều để soạn bài giảng. Bài giảng phải ngắn gọn, súc tích, bám sát vào Lời Chúa và liên hệ tới thực tế cuộc sống của giáo dân.

Dâng lễ và các việc khác phải đúng giờ, không để giáo dân phải chờ đợi, thời gian vừa phải không nên kéo dài.

3. Đời sống cầu nguyện của linh mục bao gồm: Dâng lễ hằng ngày, đi kèm với việc dọn mình và cám ơn thích hợp, xưng tội thường xuyên, cử hành sốt sắng phụng vụ các giờ kinh, viếng Thánh Thể, xét mình mỗi ngày, nguyện gẫm thực sự, đọc sách thiêng liêng, đọc hạnh các thánh, những giây phút kéo dài và thinh lặng đối thoại với Chúa, nhất là trong những dịp tĩnh tâm tháng, tĩnh tâm quý, tĩnh tâm năm. Những hình thức quý báu như lần hạt kính Đức Mẹ, đi đàng thánh giá và các hình thức đạo đức khác [9].

4. Sẵn sàng giúp giáo dân lãnh nhận bí tích Giao hoà. Khi ngồi toà, cần kiên trì lắng nghe, ân cần khuyên bảo để hối nhân cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa qua linh mục. Trừ trường hợp bất khả kháng, cha xứ cần mau mắn khi được giáo dân báo đi xức dầu bệnh nhân.

5. Cha xứ phải là một chứng nhân của một đời sống khác hơn đời sống thế trần. Đó là khó nghèo, khiêm nhường, trinh khiết, phục vụ, bác ái, noi gương Chúa Giêsu Linh Mục [10].

6. Cần tham gia các sinh hoạt chung với anh em linh mục trong Giáo hạt, dịp tĩnh tâm hay thường huấn linh mục đoàn của Giáo phận. Cần sống liên kết với các anh em linh mục khác để giúp nhau và nhất là nâng đỡ nhau trong đời sống độc thân [11]. Tôn trọng và yêu mến và nâng đỡ các linh mục lớn tuổi.

7. Trong mọi sinh hoạt, cha xứ cố gắng hoà đồng với giáo dân, nhưng không được đồng hoá. Cách ăn mặc phải phù hợp với đấng bậc mình. Vui chơi giải trí một cách lành mạnh, tránh vui chơi thái quá kẻo sinh gương xấu [12].

8. Giáo dân gọi linh mục là Cha. Nhưng linh mục không nên xưng mình là Cha (trừ khi ban các bí tích), nhất là trước một cử toạ đủ mọi thành phần tuổi tác, cấp bậc.

9. Để làm việc có hiệu quả và tiết kiệm được thời gian, cần có thời biểu trong ngày, trong tuần; trong tháng... Thời gian để ban các Bí tích: Bí tích Rửa tội, Bí tích Giao hoà... Thời gian để cấp giấy tờ. Thời gian để giải quyết các công việc khúc mắc trong Giáo xứ…Tuy nhiên, luôn luôn phải ưu tiên cho các công việc quan trọng và cần thiết trước. Cha xứ cần dành thời nghỉ ngơi thích hợp, không nên làm việc quá sức, nên khám bệnh định kỳ.

B. Đời sống giao tiếp, mục vụ

1. Tiên vàn linh mục phải sống đúng bậc mình, nghĩa là phải có đầy đủ đức tính nhân bản: Cần, kiệm, liêm, chính, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Người ta khó tha thứ cho một linh mục sống thiếu nhân bản. Đồng thời linh mục là người của Chúa, nên phải sống thế nào cho người ta thấy Thiên Chúa đang hoạt động nơi mình. Do đó, phải biết tự trọng và làm sao cho thanh danh giáo sĩ được thể hiện trong cách giao tiếp, cư xử, nói năng, ăn mặc, sinh hoạt...[13]

2. Cần phải tỏ ra ân cần khi đón tiếp giáo dân, sẵn sàng thông cảm với mọi hoàn cảnh của họ. Hết sức tránh “những bữa tiệc tùng” tại các tư gia, chớ chọn nhà này bỏ nhà kia, kẻo mang tiếng thân giàu, chuộng sang [14]. Nhưng thỉnh thoảng cũng nên sắp xếp thăm viếng giáo dân, để gặp gỡ, chia sẻ vui buồn với họ. Cần phải giữ chừng mực trong cách ăn uống.

Không nên đi đám cưới, nhất là ở những Giáo xứ có đông giáo dân, lý do đơn giản là vì không thể đi hết tất cả mọi đám cưới trong Giáo xứ. Nếu đi nhà này mà không đi nhà khác thì dân sẽ cho rằng: “Cha trọng người này khinh người kia”.

3. Đừng thích dùng quyền, hãy sống tinh thần phục vụ. Chúa Giêsu đã nói: “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” [15]. Không có thái độ lên án, thoá mạ, mà chỉ bàn bạc và hoà giải. Lắng nghe ý kiến của dân Chúa, nhưng không theo đuôi. Không ba phải. Không tuyệt đối tin tưởng ở người nào. Không trao tay cho họ chiếc gậy chủ chăn [16].

4. Tất cả mọi người trong Giáo xứ là những con chiên được trao phó cho cha xứ coi sóc. Vì vậy, cha xứ phải có trách nhiệm quan tâm đến tất cả mọi người, mọi thành phần, mọi giới, mọi hội đoàn và ban đoàn. Quan tâm một cách công minh, không phân biệt giàu nghèo, đạo đức hay khô khan. Cha xứ không bao giờ được đứng về phía một người nào hay một nhóm nào, không bao giờ được bỏ rơi ai cả, càng không được có ý loại trừ một ai... Khi cần phải ưu tiên thì nên ưu tiên đứng về phía người nghèo, người kém may mắn, người tàn tật…Nếu có những người, những nhóm bất đồng chính kiến, cha xứ không được loại bỏ họ, trái lại cần quan tâm, gặp gỡ, tạo cơ hội để họ cùng bến cùng thuyền.

5. Khi cần phải sửa lỗi giáo dân, phải đặt yếu tố tình thương lên trên hết. Có khi đóng vai trò làm cha nhưng cũng có những lúc phải đóng vai trò làm mẹ, làm anh chị, làm bạn và thậm chí là làm em hay con cháu. Thánh Phaolô nói : "Hãy lấy tinh thần hiền hoà mà sửa dạy" [17], hoặc lời dạy của chính Chúa Giêsu: "Hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi" [18]. Làm được như vậy, giáo dân sẽ rất cảm động và dễ dàng lắng nghe vị chủ chăn của mình hơn.

Khi nghe ai “trình báo” chuyện gì đó, đừng vội vàng tin lời họ. Cần phải có thời gian tìm hiểu. Khi giải quyết một “vụ việc” nào đó, phải nghe từ hai phía, cần có người làm chứng. Ai cũng sợ “chuyện của mình” bị cha xứ đưa ra giữa cộng đoàn. Nhiều giáo dân bất bình và thậm chí không còn đến nhà thờ nữa vì cha xứ “công bố” chuyện của họ trước cộng đoàn. Vì vậy, kiêng nói “chuyện người khác” trước cộng đoàn. Khi cần thì phải tuân theo nguyên tắc mà Chúa Giêsu dạy: "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế” [19].

5. Hầu như chuyện gì giáo dân cũng vào trình cha xứ: chuyện đạo, chuyện đời, chuyện gia đình, chuyện hàng xóm, kể cả những chuyện rất tế nhị...Cha xứ cố gắng lắng nghe và tận tình giúp đỡ họ bao nhiêu có thể. Nhưng luôn phải nhớ, cha xứ không thể giải quyết hết mọi vấn đề. Bởi vì, cha xứ không phải là Chúa. Phải cố gắng hết khả năng mình, rồi phó thác cho Chúa. Vì vậy, trước khi giải quyết một vấn đề gì cần phải có thời gian cầu nguyện để xin Chúa giúp đỡ.

6. Phải nghiêm túc khi giao tiếp với nữ giới. Đừng nói lời hai ý. Đừng đùa giỡn quá mức. Không bao giờ tiếp chuyện trong phòng ngủ. Tránh những dịp, những cớ làm cho mình bị hiểu lầm và mất thanh danh về đức khiết tịnh [20].

7. Sách châm ngôn dạy: “Kẻ ngu si không kìm được giận dữ,Người khôn khéo biết nén nhục nuốt sầu” [21]. Khi có sự việc xảy ra ngoài ý muốn, cần bình tĩnh, không nóng giận, vì “Giận thì mất khôn”. Để khi cơn giận tan biến, chắc chắn chúng ta sẽ có cách giải quyết tốt hơn. Vì thế, có nhiều lúc phải biết nhịn nhục, vì “một sự nhịn chín sự lành”. Có khi phải im lặng, vì “im lặng là vàng”. Có nhiều lúc cần phải nói. Nhưng nội dung lời nói của linh mục luôn phải trung thực: “Có nói có, không nói không, gian dối là do ma quỉ”. Ý hướng lời nói của linh mục phải là sự thiện : Nói để thông tri; Nói để xây dựng; Không được phô trương, chỉ trích… Cung cách lời nói của linh mục phải lịch sự: Nói là truyền thông tư tưởng, nhưng cũng để diễn tả chính mình. “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Đừng nói cộc cằn, vì nó biểu lộ tâm hồn thiếu tế nhị. Đừng có những giọng nói hách dịch, vì nó tố cáo một khuyên hướng kiêu căng. Đừng có những lời nói cứng cỏi vì nó phơi bày tính tình nghèo thiện cảm [22].

Lên tiếng để đấu tranh, chống bất công, bênh vực cho người dân là điều tốt cần phải làm, nhưng đừng mạt sát người khác hay chửi bới ai (nhất là trên toà giảng) kể cả những người bất đồng chính kiến. Thánh Phaolô nói với Titô: “Đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến nhưng phải hiền hoà, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người” [23]. Phải biết tôn trọng đối phương, nhất là những người già, những người yếu thế...Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Đừng nặng lời với cụ già, khi khuyên nhủ, hãy coi cụ như cha; hãy coi các thanh niên như anh em, các cụ bà như mẹ, các thiếu nữ như chị em, với tấm lòng hoàn toàn trong sạch” [24]. Thánh Giacôbê : “Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân” [25].

9. Đừng tiếc lời cám ơn : Cha xứ đừng vào số những người vô ơn. Hãy bày tỏ lòng biết ơn đối với những người làm ơn cho mình, đặc biệt là với giáo dân trong Giáo xứ, nhất là những người cộng tác trực tiếp với mình, những người giúp đỡ mình, kể cả những người giúp đỡ Giáo xứ. Có những lúc cần bày tỏ lòng biết ơn của mình trước toàn thể cộng đoàn, tết là dịp thuận tiện nhất.

10. Đừng tiếc lời xin lỗi: Cha xứ cũng là con người, cho nên không thể tránh được những sai lỗi trong lời nói và việc làm. Vì vậy, cha xứ cần phải xin lỗi khi biết mình sai. Xin lỗi cá nhân, xin lỗi tập thể, xin lỗi cộng đoàn.

Giáo dân rất cảm phục và cảm động khi thấy cha xứ của mình nói lời cám ơn và xin lỗi họ.

11. Tiếng chuông, tiếng hát thánh ca...phát ra từ phía nhà thờ là tiếng Chúa mời gọi, thúc giục giáo dân tới nhà thờ đọc kinh, dâng lễ. Nhưng phải có chừng mực, vừa đủ...đừng để gây phiền hà cho những người sống xung quanh, nhất là anh chị em lương dân.

12. Phải có những qui ước chung trong các sinh hoạt của giáo xứ (qui ước làng): Về đám hỏi, đám cưới, đám tang... Nhưng những qui ước này không được vượt quá luật của Chúa và Giáo Hội.

IV. CHA XỨ VỚI CỦA CẢI VẬT CHẤT

1. Cha xứ không bị ràng buộc bởi đời sống khó nghèo, nên có thể giữ của riêng: do của cải kế thừa hoặc do thi hành chức vụ giáo luật cho phép, do bổng lễ. Của cải ấy được sử dụng vào việc cấp dưỡng cho mình và để chu toàn sứ vụ linh mục cho xứng đấng bậc. Nhưng đừng coi chức vụ là một nghề làm tiền [26].

2. Cha xứ phải tránh các việc hành nghề buôn bán, do mình hay do kẻ khác để trục lợi, tránh các việc có tính cách vụ lợi, hay bị nghi ngờ vụ lợi, hoặc các việc bề ngoài có tính cách từ thiện bác ái, nhưng bên trong là trục lợi. Cũng không được chỉ đích thân lo sản xuất chăn nuôi để làm giàu cho bản thân, mà xao nhãng những việc bổn phận mục vụ [27].

3. Tiền bạc phải luôn rõ ràng và rành mạch. Không được lẫn lộn giữa tiền chung và tiền riêng. Cần phải có sổ sách ghi chép rõ ràng về các khoản tiền bạc: Tiền chung, tiền riêng, tiền xứ, tiền họ, tiền xây dựng, tiền bác ái...

4. Đừng xây những công trình mình thích, nhưng hãy xây những công trình vì nhu cầu của Giáo xứ.

5. Khi cần vận động tiền bạc để xây dựng Giáo xứ (Nhà thờ, nhà xứ, nhà trường...) phải hết sức nhẹ nhàng, đừng đặt gánh quá nặng nề lên vai giáo dân... Phải có chế độ miễn trừ cho những người không có điều kiện đóng góp như: Người già, người nghèo, người bệnh tật...

6. Cha xứ là người của mọi người chứ không phải người của riêng gia đình, dòng tộc, nên đừng bao giờ xin tiền của giáo dân để làm giàu cho mình hay cho gia đình và dòng tộc mình. Cha xứ lại càng không được lấy lý do bác ái để lấy tiền chung làm giàu cho bà con ruột thịt [28].

7. Đừng để đồng tiền hay người có tiền chi phối công việc mục vụ trong giáo xứ. Vì vậy, không phải hễ có người cho tiền là sẵn sàng nhận. Phải biết người ta cho vì mục đích gì? Tiền họ cho từ đâu? Trong buổi tiếp kiến chung ngày 02 tháng 03 vừa qua tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô thẳng thắn tuyên bố với các nhà làm từ thiện hãy quên chuyện đóng góp tài chính cho Giáo Hội đi nếu đồng tiền kiếm được của họ là do lừa gạt người khác. Đây cũng là điều mà Ngài thường xuyên nhấn mạnh, lên án những người giàu bóc lột người nghèo và bảo vệ người lao động khỏi những đối xử bất công. Ngài nói: “Giáo Hội không muốn những đồng tiền máu, nhưng cần những tấm lòng rộng mở để đón nhận lòng thương xót của Chúa”.

Đừng bao giờ để cho người nghèo cảm thấy “tủi” vì cha xứ hay đi lại với người giàu, ưu tiên nhiều cho kẻ có tiền, cho các đại gia.

8. Cha xứ cần làm gương cho giáo dân về lòng quảng đại, về việc bác ái từ thiện. Linh mục Mark Link nói: “Những điều duy nhất ta còn giữ lại được là những gì ta đã cho đi”. Tôi còn nhớ lời khuyên ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa của Cha Cựu Bề Trên Hoàng Bảo, thời tôi đang còn học Chủng Viện, Ngài nói: “Cụ tụ thì dân tán, cụ tán thì dân tụ”. Ý của Ngài muốn dạy cho các chủng sinh là những linh mục tương lai bài học về lòng quảng đại với giáo dân.

9. Có cơ hội làm việc bác ái thì đừng bỏ qua. Bác ái phải thể hiện bằng việc làm cụ thể chứ không chỉ bằng lý thuyết. Để làm việc bác ác cần phải “ra đi’ đến với vùng “ngoại biên” Vì vậy, thỉnh thoảng cha xứ cần đi thăm viếng những người có hoàn cảnh đặc biệt trong giáo xứ. Khi đi xức dầu bệnh nhân cần phải có trong túi một ít tiền để có thể giúp đỡ những người có hoàn cảnh đặc biệt lúc cần.

10. Đối với bản thân, chỉ nên sử dụng những gì cần và đủ: Mahatama Gandhi đã nói rất chí lý rằng: “Theo quan niệm cá nhân tôi, tất cả chúng ta xét ý nghĩa nào đó đều là tên ăn cắp. Vì, ta có quá nhiều cái dư thừa không cần thiết, trong khi người anh em quanh ta còn thiếu thốn đang cần đến nó. Chúng ta có vật nào đó không cần, thì vật đó chính là của ăn cắp mà chúng ta lấy từ những người nghèo cần đến nó”.

Phương tiện nhằm để phục vụ chứ không phải để đua đòi. Vì vậy, không nên sắm cho mình những phương tiện quá đắt tiền. Tuỳ việc mà tiêu tiền, “Việc to đừng lo tốn”. Tôi còn nhớ, để nhắc các chủng sinh là linh mục tương lai vừa tiết kiệm lại vừa sống quảng đại, trong một giờ huấn đức tại Chủng Viện này, cha cựu bề trên Hoàng Bảo nói rằng: “Khi cần thì một triệu cũng tiêu, nhưng khi không cần thì một ngàn cũng không được tiêu”.

Muốn các công việc to nhỏ của Giáo xứ được xuôi chảy, cha xứ phải biết “chi”.

11. Cha xứ phải nêu gương về đời sống thanh bần, do đó, cần tránh lối sống trưởng giả, quá đầy đủ tiện nghi, đồ dùng quá sang trọng, ăn mặc quá kiểu cách [29]. Đề nghị: Đồ dùng trong nhà xứ cần vừa phải, phù hợp với mọi hạng người: Không nên sang trọng quá, cũng đừng hèn hạ quá. Đừng trưng bày trong phòng khách của giáo xứ những thứ không thích hợp với cuộc sống linh mục.

12. Cha xứ phải có lòng nhiệt tâm truyền giáo, phải tự mình chăm lo việc truyền giáo, không giao trọn cho cộng sự viên. Cần cổ võ việc tông đồ giáo dân, giúp giáo dân ý thức về bổn phận truyền giáo của mình. Cha xứ cần quan tâm việc dạy giáo lý dự tòng, tổ chức rửa tội cho người lớn một cách long trọng, chăm sóc người tân tòng...Cha xứ cần nuôi dưỡng ơn gọi, nhất là nâng đỡ những em muốn đi tu nhưng gia đình gặp khó khăn về kinh tế.

V. KẾT LUẬN

Kinh nghiệm cho thấy, khi chuẩn bị chịu chức linh mục ai cũng mang trong mình một tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết, nhưng cũng không dấu được sự lo lắng. Bởi vì, không biết mình được sai đi đâu, sẽ làm việc gì?

1. Cần bình tĩnh, hãy chuẩn bị cho mình những thứ cần thiết cho hành trang mục vụ.

2. Hãy cầu nguyện và phó thác mọi sự cho Chúa.

3. Đừng chọn lựa theo ý mình mà phải vâng theo ý bề trên: Thích nơi mình ở chứ không phải ở nơi mình thích; Thích việc mình làm chứ không phải làm việc mình thích; Thích người mình ở cùng chứ không phải ở với người mình thích...

4. Đừng quan trọng hoá mình giữ chức vụ gì? Mà phải hỏi xem mình sẽ làm được gì khi giữ chức vụ đó.

5. Đừng quan trọng hoá chính mình và nghĩ rằng: “Không ai thay thế được mình”. Khi Đức Bênêđitô xin nghỉ hưu, cả Giáo Hội và thế giới hoang mang lo lắng. Thế rồi, sự lo lắng đó tan biến khi nhìn thấy những công việc của Đức Phanxicô làm. Thiên Chúa luôn có chương trình của Ngài. Tất cả mỗi người chúng ta chỉ là hạt cát giữa đại dương bao la. Vì vậy, “Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”[30].

Trên đây chỉ là những “mảnh vụn” kinh nghiệm mục vụ được góp nhặt lại với mong muốn thêm vào hành trang lên đường của quý Thầy. Chúc quý Thầy thành công.

Lm. Anthony Trung Thành

________________________________________

[1] Giáo luật Điều 515 triệt 1

[2] Giáo luật Điều 536, 537.

[3] Xem quy chế HĐMV Giáo xứ Gp. Vinh năm 2003, điều 19.

[4] Xem quy chế HĐMV Giáo xứ Gp. Vinh năm 2003, điều 20,1.

[5] Xem quy chế HĐMV Giáo xứ Gp. Vinh năm 2003, điều 20,2-3.

[6] Xem quy chế HĐMV Giáo xứ Gp. Vinh năm 2003, điều 6.

[7] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 180

[8] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 182

[9] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 183

[10] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 181

[11] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 184

[12] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 191

[13] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 193

[14] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 199

[15] Mt 20,28

[16] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 200

[17] Gl 6,1

[18] Mt 18,15

[19] Mt 18, 15-17

[20] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 201

[21] Cn 12,16

[22] Xem Bài “Nói Năng” của Đgm Bùi Tuần

[23] Tt 3, 2

[24] 1Tm. 5, 1-2

[25] Gc 3,2.

[26] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 202

[27] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 206

[28] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 208

[29] Xem Chỉ Nam Giáo Phận Vinh, số 204

[30] Lc 17, 10
Giải đáp phụng vụ: Xin cha cho biết rõ hai thừa tác vụ Đọc Sách và Giúp lễ
Nguyễn Trọng Đa04/05/2016
Giải đáp phụng vụ: Xin cha cho biết rõ hai thừa tác vụ Đọc Sách và Giúp lễ

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma

Hỏi: Thưa cha, con là một chủng sinh, và con quan tâm đến phụng vụ của các thừa tác viên Giúp lễ và Đọc sách. Xin cha giúp con, cho con biết rõ về phụng vụ này. Mục tiêu là để cung cấp cho nhiều người một số thông tin về hai thừa tác vụ này là gì, và ý nghĩa của chúng. - L. L., Mumbai, Ấn Độ.


Đáp: Tôi có thể là quá muộn để giúp chủng sinh đặc biệt này, vì hình như thầy mới được trao các thừa tác vụ. Tuy nhiên, thông tin có thể giúp ích cho nhiều người khác.

Các thừa tác vụ giáo dân (vì chúng không còn được gọi là các chức nhỏ nữa) về đọc sách và giúp lễ đã được thiết lập bởi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào năm 1973 với tông thư "Ministeria Quaedam". Các thừa tác vụ này được trao cho mọi ứng viên sẽ lãnh chức thánh. Chúng cũng được mở ra cho các nam giáo dân không mong lãnh chức thánh, nhưng trong thực tế một vài giáo phận đã làm cho hiệu quả việc sử dụng khả năng này. Để trao thừa tác vụ trên cho họ, họ cần đáp ứng các điều kiện sau đây, theo Tông thư:

"số 8. Sau đây là các yêu cầu để được trao các thừa tác vụ:

"A) Ứng viên phải tự do làm đơn xin, ký tên, và gửi đơn cho Đấng Bản quyền (Giám mục và nếu ứng viên là tu sĩ, gửi thêm cho Bề trên cấp cao), là người có quyền chấp nhận đơn xin;

"B) Ứng viên ở trong một độ tuổi thích hợp và có các phẩm chất đặc biệt được xác định bởi Hội đồng Giám mục;

"C) Ứng viên có một ý chí vững chắc để phục vụ trung thành đối với Chúa và anh chị em Kitô hữu.

"9. Các thừa tác vụ được trao bởi Đấng Bản quyền (Giám mục và nếu ứng viên là tu sĩ, Bề trên cấp cao) thông qua nghi thức phụng vụ De institutione lectoris và De institutione acolythi, vốn đã được duyệt lại bởi Tòa Thánh.

"10. Một khoảng thời gian, được xác định bởi Tòa Thánh hoặc Hội đồng Giám mục, cần được tuân giữ giữa lúc trao thừa tác vụ Đọc sách và thừa tác vụ Giúp lễ, khi hai thừa tác vụ được trao cho cùng một người.

"11. Trừ khi họ đã làm như vậy, các ứng viên cho chức thánh như phó tế và linh mục phải được trao các thừa tác vụ Đọc sách và Giúp lễ trước, và thực thi chúng trong một thời gian thích hợp, để chuẩn bị tốt hơn cho việc phục vụ tương lai cho lời Chúa và bàn thờ. Việc miễn trao các thừa tác vụ này cho ứng viên là dành cho Tòa Thánh quyết định.

"12. Các trao các thừa tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương.

"13. Nghi thức thiết lập các thầy Đọc sách và thầy Giúp lễ sẽ sớm được công bố bởi thánh bộ hữu quan của Giáo triều Rôma".

Các qui định chủ yếu của tài liệu này sau đó đã được đưa vào trong Điều 230 và Điều 1035 của Bộ Giáo Luật.

"Bộ Giáo luật, Điều 230 §1. Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội Ðồng Giám Mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được

Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương” (Bản dịch Việt ngữ của các Linh Mục Nguyễn

Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh).

Như thế, một người nam có thể được trao thừa tác vụ Đọc sách, mà không cần phải khát vọng trở thành một thầy Giúp lễ, nhưng dường như một người không thể được trao thừa tác vụ Giúp lễ mà không đi qua thừa tác vụ Đọc sách. Vì nhiều lý do thực tiễn, các thừa tác vụ này hầu như dành cho các ứng viên sau đó sẽ được truyền chức Phó tế và Linh mục.

Bộ Giáo luật, Điều 1035 nói như sau:

"§1. Trước khi được tiến chức phó tế, dù là vĩnh viễn hay chuyển tiếp, đương sự buộc phải lãnh nhận và thi hành thừa tác vụ đọc sách và thừa tác vụ giúp lễ trong một thời gian thích hợp.

«§2. Phải có một khoảng cách ít là sáu tháng, từ khi lãnh nhận thừa tác vụ giúp lễ cho đến khi chịu chức phó tế (CIS 974 ; CIS 978)" (Bản dịch, như trên)

Đối với các chức năng của thầy giúp lễ và thầy đọc sách, Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma đã cho biết:

"C. Những phần việc của thầy giúp lễ

“187. Các phần việc mà thầy giúp lễ có thể làm thuộc nhiều loại khác nhau; lại có nhiều phần việc phải làm cùng một lúc. Vậy nên phân phối các phần việc đó cho nhiều người. Nhưng nếu chỉ có một thầy giúp lễ có mặt, thầy sẽ thi hành những gì quan trọng hơn; còn các việc khác, thì trao cho những người giúp lễ khác.

“Nghi thức đầu lễ

“188. Khi tiến ra bàn thờ, thầy giúp lễ có thể mang thánh giá đi giữa hai người giúp cầm nến cháy. Khi tới bàn thờ, thầy đặt thánh giá gần bàn thờ, để thành thánh giá bàn thờ, nếu không thì đem cất vào nơi xứng đáng. Rồi thầy về chỗ của mình trong cung thánh.

“189. Trong suốt buổi cử hành, nhiệm vụ của thầy giúp lễ là đến gần vị tư tế, hoặc phó tế, mỗi khi cần, để đưa sách và giúp các ngài trong những gì cần thiết. Do đó, nên hết sức dành cho thầy một chỗ thuận tiện, để thầy dễ dàng lo phần việc của mình nơi ghế ngồi hay tại bàn thờ.

“Phụng vụ Thánh Thể

“190. Nếu không có thầy phó tế, thì sau lời nguyện cho mọi người, và khi vị tư tế còn ở tại ghế, thầy giúp lễ đặt khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và Sách Lễ lên bàn thờ. Rồi, nếu cần, thầy giúp vị tư tế tiếp nhận lễ phẩm do giáo dân dâng tiến, và, nếu tiện, đưa bánh rượu tới bàn thờ và trao cho vị tư tế. Nếu có xông hương, chính thầy đưa bình hương cho vị tư tế và giúp ngài xông hương lễ phẩm, thánh giá và bàn thờ. Rồi thầy xông hương vị tư tế và giáo dân.

“191. Thầy có thừa tác vụ giúp lễ có thể giúp vị tư tế cho giáo dân rước lễ, nếu cần, với tư cách một thừa tác viên ngoại lệ. Nếu cho rước lễ dưới hai hình, mà không có thầy phó tế, thầy cho họ rước Máu Thánh; nếu giáo dân rước lễ theo cách chấm, thì thầy cầm chén thánh.

“192. Cho rước lễ xong, thầy có thừa tác vụ giúp lễ giúp vị tư tế hoặc phó tế lau và sắp xếp các bình thánh. Khi không có thầy Phó tế, thầy giúp lễ mang các bình thánh tới bàn phụ, tráng lau và sắp xếp các bình thánh tại đó.

193. Lễ xong, thầy giúp lễ cùng với các thừa tác viên khác, làm một với phó tế và vị tư tế, trở về phòng thánh theo kiểu đoàn rước cùng một cách và thứ tự như khi đi ra.

“D. Những phần việc của thầy đọc sách

“Nghi thức đầu lễ

“194. Khi tiến ra bàn thờ, nếu không có thầy Phó tế, thầy đọc sách, mặc áo được chấp thuận, có thể mang sách Tin Mừng, nâng cao lên một chút; trong trường hợp này, thầy đi trước vị tư tế; còn nếu không, thầy đi với các người giúp khác.

“195. Khi tới bàn thờ, cùng với những người khác, thầy kính cẩn bái chào bàn thờ. Nếu có mang sách Tin Mừng, thầy bước tới bàn thờ, đặt sách Tin Mừng trên bàn thờ Sau đó, thầy cùng với các người giúp khác về chỗ của mình trong cung thánh.

“Phụng vụ Lời Chúa

“196. Thầy đọc các bài đọc trước bài Tin Mừng trên giảng đài. Khi không có ca viên, thầy cũng có thể đọc thánh vịnh và đáp ca sau bài đọc thứ nhất.

“197. Khi không có thầy phó tế, thì sau lời dẫn nhập của vị tư tế, thầy đọc sách có thể xướng các ý nguyện của lời nguyện cho mọi người.

“198. Nếu không hát ca nhập lễ hoặc ca hiệp lễ, và giáo dân không đọc các ca nhập lễ hoặc ca hiệp lễ ghi trong Sách Lễ, thì thầy đọc sách đọc các ca nhập lễ hoặc ca hiệp lễ vào lúc thích hợp (x. nn. 48, 87)” (Bản dịch Việt ngữ của Linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Chí Cần, Giáo phận Nha Trang).

Có lẽ việc giới thiệu tốt nhất cho hai thừa tác vụ trên đến từ bài nói của Giám mục trước khi ban thừa tác vụ, vốn được tìm thấy trong chính nghi thức.

Trước khi trao thừa tác vụ cho thầy đọc sách, Giám mục nói:

"Các con thân mến trong Chúa Kitô: Thông qua Chúa Con, Đấng đã làm người vì chúng ta, Chúa Cha đã mặc khải mầu nhiệm cứu độ và đem nó đến hồi viên mãn. Chúa Giêsu Kitô đã giảng dạy cho chúng ta biết mọi điều, và giao phó cho Giáo Hội sứ vụ rao truyền Tin Mừng cho toàn thế giới.

"Là người đọc sách và mang lời Chúa, các con sẽ giúp đỡ trong sứ vụ này, và do đó có phận vụ đặc biệt trong cộng đồng Kitô giáo; các con sẽ có trách nhiệm phục vụ đức tin,, vốn được bén rễ trong lời Chúa. Các con sẽ công bố lời Chúa trong cộng đoàn phụng vụ, giáo dục trẻ em và người lớn trong đức tin và chuẩn bị cho họ lãnh nhận các bí tích một cách xứng đáng. Các con sẽ mang sứ điệp cứu độ cho những người chưa nhận được nó. Như vậy với sự giúp đỡ của các con, các người nam và người nữ sẽ biết đến Chúa Cha và Con của Người là Chúa Giêsu Kitô, được Người sai đi, và do đó có thể đạt đến sự sống đời đời.

"Khi công bố lời Chúa cho người khác, hãy chấp nhận công việc này trong sự vâng phục Chúa Thánh Thần. Các con hãy suy niệm liên lỉ, để mỗi ngày các con có lòng yêu mến yêu sâu sắc hơn với Kinh Thánh, và trong mọi sự, các con sẽ nói và sẽ trình bày cho thế giới biết Đấng Cứu độ chúng ta, là Chúa Giêsu Kitô".

Trước khi trao thừa tác vụ cho thầy giúp lễ, Giám mục nói:

"Các con thân mến trong Chúa Kitô, là những người được chọn cho thừa tác vụ Giúp lễ, các con sẽ có một vai trò đặc biệt trong sứ vụ của Giáo Hội. Tột đỉnh và nguồn mạch của đời sống Giáo Hội là bí tích Thánh Thể, vốn xây dựng cộng đồng Kitô hữu và làm cho nó phát triển lên. Trách nhiệm của các con là giúp các linh mục và phó tế trong việc thực thi sứ vụ của họ, và như là các thừa tác viên đặc biệt, các con cho các tín hữu rước lễ trong buổi phụng vụ, và trao Mình Thánh cho các bệnh nhân. Các con hãy chăm lo thế nào để nhờ hy lễ của Chúa Kitô, các con sống phù hợp với hy lễ ấy cách hoàn hảo hơn; ngoài ra các con hãy tìm hiểu ý nghĩa thâm thúy và thiêng liêng của những việc các con thi hành, để mỗi ngày các con tận hiến mình cho Chúa làm của lễ thiêng liêng đẹp lòng Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô.

"Khi thi hành những công việc trên, các con được thông phần cùng một bánh với anh chị em, thì các con hãy trở nên một thân thể với anh chị em. Hãy chứng tỏ lòng yêu mến chân thành với Nhiệm thể Chúa Kitô, dân thánh thiện của Chúa, và nhất là yêu mến các người yếu đuối và bệnh nhân. Hãy sống đúng theo lệnh truyền Chúa ban cho các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". (Zenit.org 3-5-2016)

Nguyễn Trọng Đa