Matrimony
Hôn phối. Là hôn nhân, nhưng với từ ngữ thích hợp hơn với ứng dụng pháp lý và tôn giáo. Đây là từ ngữ riêng cho bí tích hôn phối, và quy chiếu đến mối quan hệ giữa chồng và vợ hơn là đến nghi thức hoặc tình trạng hôn nhân.
Mattathias
Mattathias, ông Mát-tít-gia. Là thân phụ của năm người con trai và là người lập nên gia đình Maccabee (Ma-ca-bê). Vua Hi Lạp cố gắng loại trừ mọi dấu vết Do thái giáo, giết hết những ai ngoan cố chống lại ông. Mattathias rất phẫn nộ về các nỗ lực ấy, và từ chối việc “ngồi đó mà nhìn Thành Thánh bị nộp vào tay quân thù, nhìn Thánh Điện rơi vào tay những kẻ ngoại bang" (I Mcb 2:7). Khi thánh chỉ của Vua được thực thi trong thành ở của Mattathias, ông này giết chết vị đại diện của nhà vua và cùng với năm con trai trốn đi nơi khác. Ông tổ chức lực lượng chiến đấu và khuyến khích các con tiếp tục chiến dịch kháng cự sau khi ông đã qua đời. Họ thành công đến nỗi trong nhiều năm họ đã duy trì được các tự do tôn giáo và chính trị của Israel (I Mcb 2).
Matter
Vật chất, chất thể. Là chất tạo thành một vật thể. Nó không phải là tinh thần và có một số đặc tính, như lực hấp dẫn, trương độ, có thể chia làm nhiều phần, kích thước, trọng lượng, khối lượng và thể tích; nó cũng có thể đo lường được trong không gian hay thời gian.
Matter, Sacramental
Chất thể bí tích. Là các yếu tố vật chất hoặc các hành vi giác quan của con người, xét là cần thiết cho việc lãnh bí tích. Các chất thể này tiếp nhận ý nghĩa từ các lời nghi thức đi kèm theo. Chất thể thành sự phải được sử dụng và là cần thiết cho bí tích thành sự.
Matter Of A Sacrament
Chất thể của bí tích. Là phần của một bí tích, được sử dụng để thực thi nghi thức bí tích. Đây là phần của bí tích, mà điều gì đó cần làm với nó hoặc nhờ nó để ban ân sủng, chẳng hạn nước trong bí tích Rửa tội, dầu thánh trong bí tích Thêm sức, bánh và rượu trong bí tích Thánh thể.
Matthew
Thánh Mátthêu. Là một trong Mười hai Tông đồ và là tác giả của Tin mừng thứ nhất. Ngài là một người thu thuế cho chính quyền Roma. Các thánh Máccô và Luca cho biết rằng Mátthêu (còn gọi là Levi, Lê-vi) đang làm việc tại trạm thu thuế khi Chúa Giêsu kêu gọi ngài gia nhập nhóm các môn đệ của Chúa, và Mátthêu nhanh chóng vâng lời Chúa (Mc 2:14). Sau đó, khi ngài tiếp đãi Chúa Giêsu và các môn đệ trong bữa ăn ở nhà ngài, người ta thấy rõ ràng là người Do Thái đã bực bội và khinh miệt các người thu thuế biết bao (Lc 5:27-32). Người ta không biết gì thêm về tiểu sử của ngài qua các bút tích của ngài, vì ngài không hề nói về mình trong Tin Mừng của ngài. Mục đích viết của ngài là cố gắng thuyết phục các Kitô hữu gốc Do Thái giáo rằng Chúa Giêsu là Đấng Messiah (Mê-si-a, Thiên Sai), và hoàn thành lời hứa của các ngôn sứ. Do đó, không ngạc nhiên chút nào khi Mátthêu trích dẫn Cựu Ước nhiều hơn so với các thánh Máccô và Luca. (Từ nguyên Hi Lạp mathhaios hay matthaios; từ tiếng Aramaic mattai, chữ tắt của tử ngữ Do thái cổ mattanyah, quà tặng của Đức Chúa.)
Matthias
Matthias, thánh Mát-thi-a. Là người thay thế cho Judas (Giu-đa) làm một Tông đồ. Người ta ít biết về tiểu sử của ngài. Có lẽ ngài là một trong 72 môn đệ mà thánh Luca đã nói tới (Lc 10:1), bởi vì thánh Phêrô, khi sắp xếp việc thế chỗ cho Judas, đã nhấn mạnh rằng người này phải là người “đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu suốt thời gian Người sống giữa chúng ta." Matthias và Barsabbas (Ba-sa-ba) được chọn làm ứng viên sáng giá. Và Matthias đã được chọn qua việc rút thăm (Cv 1:21-26).
Maurists
Tu sĩ Dòng Thánh Maur. Là các đan sĩ Biển Đức người Pháp thuộc Dòng thánh Maur, được thành lập dưới thời Richelieu năm 1621. Từ năm 1672 trở về sau, tu sĩ Dòng này chuyên về nghiên cứu học thuật và sản sinh nhiều người nổi tiếng như Mabillon, Massuet, và Aubert. Khi một số tu sĩ tham gia phái Jansen (đạo lý khắc khổ), kỷ luật Dòng sút giảm và cuối cùng Dòng bị Đức Giáo hoàng Piô VII giải tán năm 1818.
May
Tháng Năm. Tháng sùng kính đặc biệt Đức Trinh Nữ. Tục lệ này phát sinh từ thế kỷ 16, được tạo ra đề chống lại sự không trung thành với giáo lý và sự vô luân của nhiều người. Đức Giáo hoàng Piô VII chấp thuận và ban ân xá cho các kinh nguyện đặc biệt được người ta dâng lên Đức Mẹ trong tháng Năm. Các Đức Giáo hoàng Lêô XIII và Piô XII đã ban bố một số văn kiện có ý nghĩ và lòng sùng kính Đức Mẹ, ủng hộ việc sùng kính tháng Năm khắp trong Giáo hội.
May Crowning
Rước kiệu Đức Mẹ trong tháng Năm. Là cuộc rước kiệu trọng thể trong tháng năm, và kết thúc cuộc rước là tượng Đức Mẹ được đội triều thiên bằng vòng hoa hồng hoặc vật trang trí thích hợp. Có vinh dự đặc biệt cho người được chọn để đội triều thiên cho tượng Đức Mẹ. Rước kiệu Đức Mẹ trong tháng Năm thường là đỉnh cao của lòng sùng kính Đức Mẹ ở một giáo phận, giáo xứ, một học hiệu hoặc một hội đoàn Công giáo.
May Laws
Bộ luật tháng Năm. Là bộ luật được áp dụng tại Đức do Quốc hội Phổ (Prussian Landtag) ban bố năm 1873; luật này nhằm đưa Giáo hội Công giáo ở Đức hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát của Nhà nước, và do đó tách rời khỏi Roma. Chính quyền dân sự Đức là trọng tài duy nhất của luật lệ Giáo hội; giáo sĩ có thể rời chức vụ của mình bằng cách tỏ lộ sự mong muốn của mình với một thẩm phán thế tục; việc bổ nhiệm các chức vụ Giáo hội chỉ tùy thuộc việc xem xét của Nhà nước mà thôi; sự cách chức giáo sĩ phải do Nhà nước kiểm soát; các tòa trống ngôi trở thành nơi Nhà nước cai trị; cộng đòan Dòng tu bị xóa bỏ, chỉ trừ các Dòng chăm sóc bệnh nhân. Mọi sự bất đồng ý kiến nào của giáo sĩ sẽ mất hết mọi tài sản. Các luật trên có hiệu lực cho đến năm 1887, khi chúng được sửa đổi rất nhiều. Chúng không bị hủy bỏ cho đến năm 1905.
M.C.
M.C., Master of ceremonies, Trưởng nghi, trưởng ban nghi lễ.
Mean
Trung gian, trung bình, trung độ, trung lưu. Nói chung, đây là cái gì nằm ở giữa so với các cái khác. Đây có thể là trung bình trong sự so sánh, hoặc là trung độ giữa hai thái cực. Trong hành xử luân lý, đây là cách thức ôn hòa và hợp lý nhất của hành động, mà không thất bại do thái quá hoặc bất cập, như lòng can đảm ở giữa tính liều lĩnh và tính nhát gan. Do đó có trung độ của nhân đức luân lý, vốn làm điều đúng theo cách thức đúng, trong biện pháp đúng, đúng lúc, đúng chỗ, và do đúng người làm. Trong chính trị, từ ngữ có nghĩa là ôn hòa, là điều kiện của Nhà nước kiếm soát toàn dân bằng giai cấp trung lưu. (Từ nguyên Latinh medianus, từ chữ medius, ở giữa, trung gian.)
Meaning
Ý nghĩa. Là điều được nhắm tới trong bất cứ thông tin tư tưởng nào. Trong giáo huấn của Giáo hội, đó là sự thật được chuyển trong ngôn ngữ dễ hiểu, mà những người đã sẵn sàng đón nhận nó, sẽ tiếp nhận nó từ định nghĩa, tuyên bố hoặc quyết định của phẩm trật Giáo hội.
Means
Phương tiện, phương thế, biện pháp, cách thức. Là điều gì được nhắm tới không vì lợi ích của chính nó, nhưng vì lợi ích của một sự vật khác; nó được gọi là phương tiện bởi vì nó nằm giữa tác nhân và mục đích, và sự sử dụng nó đem tác nhân đến một mục đích hoặc cùng đích. Từ ngữ này cũng có nghĩa là vừa phương tiện vừa mục đích, trong khía cạnh khác nhau, vì nó có thể được tìm kiếm vì chính lợi ích của nó và vì lợi ích của điều gì tốt hơn. Và như thế nó được gọi là cùng đích trung gian, và có thể một loạt cùng đích trung gian, chẳng hạn khi một người muốn A để có B, rồi muốn B để có C,...
Means-End
Phương tiện-Mục đích. Là điều gì tốt mà một người tìm kiếm vì chính nó, và đó cũng là mục đích; nhưng nó là cũng như một cách thức để tìm ra điều khác, do đó nó là một phương tiện. Hầu hết hành vi con người có đối tượng là điều gì vừa là được ước muốn trong chính nó, vừa hữu ích để tìm kiếm một mục đích ước muốn khác.
Means Of Social Communication
Phương tiện truyền thông xã hội. Là mọi phương tiện sẵn có để thông tin ý tưởng, sự kiện, và kinh nghiệm nhằm cho chúng có tác động đến hạnh phúc của xã hội con người.
Measure
Biện pháp, đo lường. Là sự lọai suy với một chuẩn tính tóan số lượng, và tiêu chuẩn phán đóan, đánh giá hoặc so sánh. Được Chúa Kitô dùng để mô tả lòng Chúa thương xót chúng ta được đo lường bằng lòng thương xót của chúng ta với tha nhân. Nó là một cơ sở của giá trị, vì sự hợp tác của một người với ơn Chúa quyết định phần thưởng siêu nhiên cho người ấy. Sự đo lường được dùng để mô tả một tỉ lệ, độ, mức độ, chẳng hạn “Bình đẳng là sự đo lường của công lý."
Meat
Thịt. Là thịt của động vật và chim được con người ăn, như được hiểu trong luật của Giáo hội. Việc ăn thịt bị cấm vào các ngày kiêng thịt, và việc ăn chay có một giá trị thiêng liêng, phát sinh từ thời Cựu Ước và được thực thi từ thời các thánh Tông đồ. “Luật kiêng thịt cấm ăn thịt, nhưng không cấm trứng, sản phẩm từ sữa hoặc đồ gia vị làm từ mỡ động vật" (Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Paenitemini, Điều III, 1).
Mechanism
Bộ máy, guồng máy, cơ chế. Là thuyết cho rằng mọi sinh vật, không lọai trừ linh hồn con người, là các bộ máy phức tạp ít hay nhiều. Trong quan điểm này, mọi sự sống hữu cơ chỉ là một chức năng hoặc biến thái của vật chất, tuân theo các luật nền tảng của lý hóa.
Mechitarists Or Mekhitarists
Tu sĩ Dòng Mechitar hoặc Dòng Mekhitar. Là một cộng đòan tu sĩ công giáo Armenia, được thành lập tại Constantinople năm 1701 và tuân giữ luật Biển Đức sửa đổi. Cộng đoàn này được thành lập bởi Mechitar thành Sebaste, một linh mục Armenia tuân phục Roma, và cộng đòan rời khỏi Constantinople và cư ngụ trong lãnh thổ của Venice, cuối cùng đến sống trên đảo San Lazzaro. Có một nhóm khác đến sống ở Vienna, Áo. Dòng Mechitar dấn thân vào công tác giáo dục và truyền giáo, và đã xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng bằng tiếng Armenia. Họ dùng Phụng vụ Armenia.
Medals
Ảnh đeo, huy chương. Là miếng kim lọai hình tròn như đồng bạc mang hình ảnh Chúa Kitô, Đức Mẹ và vị thánh, hoặc một đền thánh hay một sự kiện thánh. Các ảnh đeo này được Giáo hội làm phép và sử dụng để gia tăng lòng mộ đạo. Việc sử dụng ảnh đeo đã có từ thuở xưa; nhiều ảnh được tìm thấy trong các hang tọai đạo, một số có biểu tượng chi-rho. Trong thời Trung Cổ người hành hương, khi rời địa điểm hành hương, được tặng ảnh đeo có hình đền thánh. Ngày nay người hành hương đến Roma, Lộ Đức, và các nơi khác đều mua ảnh đeo để làm kỷ niệm chuyến đi. Hiệu quả của việc đeo ảnh này tùy thuộc vào đức tin của người đeo, và vào ân xá Giáo hội ban cho nhờ việc đeo ảnh ấy. Có vô số ảnh đeo được Giáo hội chấp thuận. Trong số các ảnh được đeo nhiều nhất, có áo Đức Bà và ảnh Đức Mẹ hay làm phép lạ nhằm tôn kính Đức Trinh Nữ.
Mediator
Đấng Trung Gian. Là một tước hiệu của Chúa Kitô như một Đấng hòa giải Thiên Chúa với lòai người. Tước hiệu này dựa vào lời dạy của thánh Phaolô, khi ngài nói “chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người" (I Tm 2:5-6). Chúa Kitô là đấng có tư cách nhất để làm Đấng Trung gian, nghĩa là một Đấng đem mọi bên đạt thỏa thuận với nhau. Là Thiên Chúa, Chúa Kitô là Đấng mà với Ngài nhân lọai cần phải được hòa giải; là con người, Ngài đại diện cho những người cần sự hòa giải. Chúa Kitô tiếp tục công trình trung gian của Ngài, không còn thưởng ơn tha thứ cho con người, nhưng thông ban ơn đã chiến thắng trên Thánh giá. Hơn nữa, không có ai khác ngoài Chúa Kitô đáng được gọi là Đấng Trung gian theo nghĩa thứ yếu, “nghĩa là họ cộng tác trong sự hòa giải của chúng ta; sắp xếp và chăm sóc sự kết hiệp của con người với Thiên Chúa” (Thánh Tôma Aquinas, Summa Theologica, III, 48, 1). Thật ra mỗi người chúng ta, khi cộng tác với ơn Chúa, là một thứ trung gian giữa chính bản thân mình với Chúa rồi. (Từ nguyên Latinh mediator, từ chữ mediare, đứng giữa hay chia ở giữa.)
Mediator Dei
Thông điệp Mediator Dei. Thông điệp “Đấng Trung gian của Thiên Chúa” của Đức Giáo hoàng Piô XII về Phụng vụ (ngày 30-11-1947). Đây là một văn kiện lịch sử, tóm tắt sự phát triển phụng vụ trong Giáo hội cho đến ngày nay, và đặt nền móng cho các cải cách phụng vụ của Công đồng chung Vatican II. Văn kiện định nghĩa rõ ràng ý nghĩa phụng vụ là sự thờ phượng công khai chính thức của Giáo hội; nhấn mạnh đến ưu tiên của của sự thờ phượng ở nội tâm; nhấn mạnh đến nhu cầu cho phụng vụ phải thuộc về phẩm trật trong Giáo hội; kể lại sự phát triển của phụng vụ kể từ Công đồng chung Trent, nhưng nhấn mạnh rằng để có hiệu lực sự phát triển này không thể giao cho sự phán đóan riêng tư; văn kiện tuyên bố rằng Bí tích Thánh Thể là đỉnh cao và là trung tâm của Kitô giáo; thúc giục tín hữu tham gia tích cực và mạnh mẽ vào việc phượng tự, nhất là trong Thánh lễ; giải thích cách thức hoa quả của việc Rước lễ được gia tăng bằng sự chuẩn bị tốt hơn và việc cám ơn Chúa sốt sắng; khen ngợi những ai sùng kính Sự Hiện Diện Thật sự của Chúa và cổ vũ lòng sùng kính này nơi tín hữu; đặt Kinh Thần tụng bên cạnh Thánh Thể như là một phần của đời sống phụng vụ của Giáo hội; nêu ra rằng niên lịch phụng vụ nên xoay chung quanh các mầu nhiệm cuộc đời, cuộc Thương khó, Tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô; và khuyến khích các việc đạo đức ngòai phụng vụ để gia tăng lòng đạo đức của các linh mục, tu sĩ và giáo dân.
Medieval Music
Âm nhạc Trung Cổ. Thời kỳ từ năm 600 đến năm 1400 được xem như là thời kỳ Trung Cổ. Trong thời kỳ này, âm nhạc phụng vụ và hát đơn ca thế tục ở vào thời phát triển lớn nhất. Nhạc đa âm đạt các hình thức nghệ thuật tinh tế và nhạc Bình ca đang ở thời kỳ đầu, như âm nhạc Ambrosian ở miền bắc nước Ý, âm nhạc Gallican ở Pháp, và âm nhạc Visigothic ở Tây Ban Nha. Nhu cầu cho phụng vụ thống nhất trở nên rõ ràng nhất, vì mỗi vùng địa lý lý luận rằng âm nhạc của họ thắng thế hơn Roma cho đến thế kỷ 11, khi đó phụng vụ Roma được buộc áp dụng khắp nơi, trừ một vài địa phương mà thôi. Thời gian từ năm 700 đến năm 800 chứng kiến mọi bài ca được tô điểm bằng lời ca mới, dạo khúc mở đầu và thời gian nghỉ giữa hai phần nhạc. Ca tiếp liên xuất hiện từ thế kỷ 12, và trở nên quá công phu trau chuốt đến nỗi Công đồng chung Trent cảm thấy buộc phải cấm mọi ca tiếp liên trừ các ca tiếp liên sau đây: Lauda Sion (Hỡi Sion hãy ngợi khen), Veni Creator Spiritus (Lạy Chúa Thánh Thần Tạo Dựng, xin ngài hãy đến), Victimae Paschali Laudes (Tán tụng Chiên Vượt Qua), và Dies Irae (Ngày thịnh nộ), sau đó một thời gian chấp nhận thêm Stabat Mater (Mẹ đứng đó). Một danh sách lớn các bài ca thế tục xuất hiện trong cùng thế kỷ 12, nhưng ảnh hưởng của chúng vào nhạc đạo là rất nhỏ. Giai điệu của các chàng hát rong xuất hiện ở miền nam nước Pháp, lan lên miền bắc rồi lan đến các minnesinger của Đức. Các chàng trai hát rong chiếm các vị trí hàng đầu trong lịch sử âm nhạc thời Trung Cổ, với Tây Ban Nha, Ý và Anh có nhiều bài thánh ca nhất. Thế kỷ 13 chứng kiến thánh ca chầu Phép lành phát triển, bằng cách sử dụng lời Kinh thánh, nhưng sau đó các khía cạnh phụng vụ của ngôn từ không còn được quan tâm, nhường chỗ cho giai điệu chàng hát rong và các điệu múa. Nhiều nhịp điệu khác nhau được phát triển vào giữa thế kỷ 13; nhịp điệu ba phách thống trị trong âm nhạc đa âm. Hình thức ballad xuất hiện trong thế kỷ 14, với các nét điệu tô điểm và nhịp chỏi bất thường được thử sử dụng. Khi thời kỳ này kết thúc, một sức đẩy âm nhạc mới phát sinh từ Anh -- nghệ thuật mới khai thác quãng ba và quãng sáu, rất quan trọng cho âm nhạc.
Meditation
Suy niệm. Là việc cầu nguyện bằng suy tư. Đây là hình thức tâm nguyện, trong đó tâm trí, trước sự hiện diện của Chúa, suy nghĩ về Chúa và về các sự thánh thiện. Trong khi tình cảm có thể là tích cực, sự nhấn mạnh trong suy niệm này là vai trò của tâm trí. Vì vậy có có thể gọi là tâm nguyện tản mác. Các đối tượng suy niệm chủ yếu là: các mầu nhiệm đức tin; sự hiểu biết tốt hơn của con người về điều Chúa muốn mình làm; và ý Chúa, để hiểu cách thức Chúa muốn được phụng sự bởi người đang suy niệm. (Từ nguyên Latinh meditatio, suy nghĩ về.)
Meekness
Hiền lành, ôn hòa, nhu mì. Là nhân đức làm dịu sự nóng giận và các tác dụng rối lọan của nó. Đây là một hình thức của tính điều độ, kiểm soát mọi cử động bất thường của sự oán giận đối với tính tình hoặc cách hành xử của người khác.
Melancholic Temperament
Tính khí đa sầu. Là một trong bốn tính khí cổ điển, với đặc điểm là trầm ngâm và thận trọng. Những người có tính khí này thích ở một mình, dễ buồn nản, và phải đấu tranh để vượt qua xu hướng tự nhiên về bi quan.
Melancholy
U sầu, ưu sầu, u buồn, sầu muộn, đa sầu. Là một trạng thái thường xuyên của sự nản lòng. Đây là kết quả của sự rối loạn tình cảm, trong đó tư tưởng của một người thừa nhận một tính tình đa sầu khi gặp một kích thích dù là nhẹ.
Melchizedek
Melchizedek, ông Men-ki-xê-đê. Là Vua thành Salem (Sa-lem) và là tư tế. Khi Abraham (Áp-ra-ham) từ trận chiến trở về sau khi cứu ông Lot (Lót), ông Melchizedek chào đón ông và chúc phúc để mừng chiến thắng của ông (St 14:18-20). Đổi lại Abraham biếu một phần mười chiến lợi phẩm do chức tư tế của ông. Trong một Thánh vịnh nói về vai trò vừa là tư tế vừa là vua, David (Đa-vít) kêu lên “ĐỨC CHÚA đã một lần thề ước, Người sẽ chẳng rút lời, rằng: "Muôn thuở, Con là Thượng Tế, theo phẩm trật Men-ki-xê-đê" (Tv 110:4). Chỉ có hai quy chiếu đến tư tế-vua trong Cựu ước. Trong Tân Ước, Thư gửi tín hữu Do thái (Dt) liên kết chức linh mục của Chúa Kitô với chức tư tế của Melchizedek, bằng cách đưa vào ba chương liên tiếp lời khẩn cầu của Tv 110: “Chúa Kitô trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê." Đây cũng là nền tảng Kinh thánh cho giáo lý Công giáo, nói rằng một người khi được truyền chức Linh mục, thì trở nên giống như “Chúa Kitô là vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê" (Dt 5, 6, 7).
Melitian Schism
Ly giáo Melitius. Là sự ly giáo trong Giáo hội ở Ai cập trong thế kỷ thứ tư. Cuộc ly giáo này được khởi đầu bởi Melitius, Giám mục giáo phận Lycopolis, Ai Cập, khi ông chống đối cách thức hòa giải mà thánh Phêrô, Tổng Giám mục Alexandria, đang làm cho các người Công giáo sa ngã trở về với Giáo hội. Là một ly giáo khác, mang cùng tên, diễn ra tại Antioch trong cuộc tranh cãi giữa hai phe chính thống về ngai tòa giám mục. Thánh Melitius (qua đời năm 381), người cho là mình đúng lý, phải sống lưu đày và tạm thời xa rời khỏi Roma do sự trình bày sai lệch của các người Arian chống đối ngài.
Melkites
Giáo hội bảo hoàng. Là các Kitô hữu Byzantine hậu duệ của các người trung thành với Công đồng Chalcedon (năm 451), khi phần lớn người ở Cận Đông chấp nhận lạc thuyết Nhất tính. Họ dần dần tùy thuộc vào Thượng phụ ở Constantinople và liên kết với ngài trong cuộc Ly khai Hi Lạp từ thế kỷ thứ chín đến thế kỷ 11. Họ trở về hiệp nhất với Roma trong thế kỷ 18 dưới thời Thượng phụ Cyril VI, là người cùng với các người kế vị đại diện cho hàng giám mục chính thống của Antioch. Kể từ thế kỷ 12, họ tuân giữ Nghi lễ Byzantine, và chủ yếu sử dụng tiếng Ả rập.
Memento Of The Dead
Kinh tưởng nhớ người chết. Là kinh tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời, sau phần Truyền phép của Thánh lễ. Trong Lễ quy Roma, Kinh tưởng nhớ người chết luôn được đọc thầm, sau lời loan báo ngắn: “Lạy Chúa, xin cũng nhớ đến (những) tôi tớ Chúa là T... (và T...) được ghi dấu đức tin, đã ra đi trước chúng con và đang nghỉ giấc bình an, nhất là những ngưởi chúng con đang cầu nguyện cho hôm nay.” Trong các Lễ quy khác, có một Kinh tưởng nhớ chung cho người chết, và trong Thánh lễ cầu hồn, có kinh đặc biệt nêu tên các người qua đời được Thánh lễ ấy cầu nguyện cho. (Từ nguyên Latinh memento, xin hãy nhớ [mệnh lệnh cách].)
Memento Of The Living
Kinh cầu cho người sống. Là kinh cầu trong Thánh lễ cho những người mà linh mục và giáo dân muốn cầu nguyện cho cách đặc biệt. Trong Lễ Quy Roma, kinh cầu này diễn ta trước khi Truyền Phép, và những người ấy được nêu tên âm thầm, sau đó là kinh cầu chung cho người sống. Trong các Lễ quy khác, chỉ có một kinh cầu chung cho Giáo hội, chứ không có Kinh cầu đọc thầm cho người sống.
Memorare
Memorare, Kinh Hãy Nhớ. Là kinh cầu bầu với Đức Trinh nữ Maria, thường được gán tác giả là thánh Bernard ở Clairvaux (1090-1153), có lẽ bởi vì kinh được Claude Bernard, “vị Linh mục nghèo” (1588-1641), phổ biến. Còn tác giả thật là ai thì không rõ. Bản kinh đầu tiên được biết đến từ thế kỷ 15. Kinh thường được các Đức Giáo hoàng ban ân xá, và hiện nay có tiểu xá cho mỗi lần đọc kinh này. Bản kinh trong tiếng Việt đọc là: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ xin bầu chữa cứu giúp mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời. Nhân vì sự ấy, con hết lòng trông cậy than van chạy đến sấp mình xuống dưới chân Đức Mẹ là Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh, xin Đức Mẹ đoái đến con là kẻ tội lỗi. Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu thế, xin chớ bỏ lời con kêu xin, một dủ lòng thương và nhậm lời con cùng. Amen." (Từ nguyên Latinh memorare, kêu mời nhớ đến.)
Memorial
Tưởng nhớ, hồi niệm, lễ nhớ. Là các việc tưởng nhớ tôn giáo, nhất là Hy tế Tạ ơn. Tuy nhiên, không như các cuộc tưởng nhớ khác, Thánh lễ không phải là việc tưởng nhớ bình thường. Thánh lễ thực sự nhớ lại các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Kitô, và nhất là việc Chúa chịu đóng đinh. Tuy nhiên, Thánh lễ “không chỉ là cuộc tưởng nhớ trống không về cuộc tử nạn và cái chết của Chúa Giêsu Kitô, mà là một hành động hy tế thật sự và đúng nghĩa, qua đó vị Linh mục Thượng Phẩm, với sự hiến tế không đổ máu, tự hiến mình làm lễ vật được Chúa Cha vui lòng chấp nhận, như chính Ngài chết trên thập giá vậy" (Đức Giáo hoàng Piô XII, thông điệp Mediator Dei, 68). (Từ nguyên Latinh memorialis, thuộc về hoài niệm, từ chữ memoria, hoài niệm, kỷ niệm.)
Memory
Trí nhớ, ký ức. Là khả năng của một người để lưu giữ, tái hiện và nhắc lại y chang các kinh nghiệm quá khứ của mình. Luyện trí nhớ là quan trọng cho đời sống luân lý đúng. Nó được thực hiện bằng cách phát triển tập quán nhắc nhớ thường xuyên các ý tưởng hoặc tâm trạng, vốn tác động cách cư xử tốt, chẳng hạn sự hiện diện của Chúa, gương Chúa Kitô. Tâm nguyện, ngoài các lợi ích khác, cũng giúp củng cố trí nhớ cho điều tốt luân lý.
Mendacity
Nói dối, xuyên tạc, nói điêu. Là một rối loạn nhân cách xui khiến nói dối thường xuyên, hoặc cố tình lừa gạt người khác. (Từ nguyên Latinh mendax, nói dối, giả tạo, láo, xuyên tạc.)
Mendicant Friars
Tu sĩ Dòng Hành Khất. Là thành viên của các Hội Dòng cấm có tài sản riêng trong cộng đòan, do đó họ cần lao động hoặc đi xin ăn để sống, và không bị ràng buộc vào một cộng đòan bởi lời khấn sống cố định một chỗ lâu dài. Thuở đầu tên gọi này là dành cho Dòng Phanxicô và Dòng Đaminh. Sau đó tên và quyền lợi được mở rộng cho Dòng Carmêlô (năm 1245), các thầy ẩn tu của thánh Âu Tinh (năm 1256), và Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (năm 1424). Một thời gian sau, các Dòng khác cũng nhận danh hiệu này. Theo luật Giáo hội, tu sĩ Dòng Hành khất được phép đi khất thực trong khu vực có tu viện của mình, khi được phép của bề trên Dòng. Ở các nơi khác, họ phải xin phép của Giám mục địa phương. (Từ nguyên Latinh mendicus, ăn mày; và người tàn tật, người đáng thương.)
Menology
Liệt truyện các thánh. Là bộ sưu tập hạnh các thánh trong Giáo hội Hi Lạp, được sắp xếp theo tháng và ngày; cũng là một lịch Giáo hội chứa các bài học từ Kinh thánh theo ngày lễ từng vị thánh. Ở Đông phương, Liệt truyện các thánh là một cuốn sách dùng riêng cá nhân theo tháng và ngày, có tiểu sử một số người thánh thiện nổi tiếng nhưng chưa được phong thánh. Liệt truyện các thánh cũng được sưu tập cho từng tu viện hoặc cho tòan bộ cộng đòan của Dòng, ghi lại tóm tắt tiểu sử và thành quả của các thành viên nổi tiếng đã từ trần. (Từ nguyên Hi Lạp m_nos, tháng + logos, bài diễn văn, hiểu biết.)
Mensa
Mensa, mặt bàn thờ, bàn, một phần tài sản. Là mặt phẳng của một bàn thờ cố định hay được cung hiến. Viên đá bàn thờ di động đôi khi dùng để chỉ cả bàn thờ lẫn mặt bàn thờ. Từ ngữ này cũng áp dụng cho một phần của tài sản nhà thờ được dành để hỗ trợ đời sống cho vị giám chức hoặc thừa tác phục vụ. Trong nghĩa giáo luật, mensa đòi hỏi rằng tài sản nhà thờ được chia đều giữa phần thuộc về giáo sĩ và phần thuộc về cộng đòan nhà thờ. (Từ nguyên Latinh mensa, cái bàn.)
Mental Prayer
Tâm nguyện. Là hình thức cầu nguyện trong đó các tình cảm được diễn tả là tình cảm của chính người đó chứ không phải của người khác, và sự diễn tả các tình cảm này là chủ yếu, nếu không phải là trọn vẹn, ở nội tâm, chứ không diễn tả ra ngoài. Tâm nguyện được hoàn thành bởi các hành vi bên trong của tâm trí và tình cảm, và là sự suy niệm đơn thuần hoặc chiêm niệm. Là suy niệm, nó là sự suy xét trầm ngâm và yêu mến các chân lý tôn giáo hoặc một mầu nhiệm đức tin. Là chiêm niệm, nó là sự suy xét trực giác và yêu mến, cùng là sự chiêm ngắm các chân lý tôn giáo hoặc các mầu nhiệm đức tin. Trong tâm nguyện, có ba sức mạnh của linh hồn tham gia: trí nhớ, vốn cung cấp chất liệu trí tuệ cho suy niệm hoặc chiêm niệm; trí tuệ, vốn cân nhắc hay nhận thức trực tiếp ý nghĩa của một chân lý tôn giáo, và các hàm ý để đem ra thực hành; và ý chí, vốn diễn tả cách tự do các tình cảm của đức tin, cậy, mến, và nếu cần, đưa ra các quyết định tốt, dựa vào điều mà trí nhớ và trí tuệ giúp cho ý chí hiểu được.
Mental Reservation
Tiềm chế ý nghĩa. Là lời nói mà trong đó nghĩa chung và rõ ràng của từ ngữ bị giới hạn vào một ý nghĩa đặc biệt. Luân lý tính của loại lời nói này tùy thuộc vào liệu người nghe có thể kết luận cách hợp lý từ hoàn cảnh mà một tiềm chế ý nghĩa được sử dụng hay không.
Menticide
Sự tẩy não, sự gieo rắc nghi ngờ. Là một nỗ lực có hệ thống để bẻ gãy các niềm tin và lòng trung thành của một người bằng các phương tiện vật lý hay tâm lý, nhằm thay thế bằng các niềm tin của mình. Cũng còn gọi là sự tẩy não, nó có thể được thực hiện chủ yếu nhờ các phát minh mới trong tâm lý học, và sự sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. (Từ nguyên Latinh mens, tâm trí + -cidium, giết chết.)
Mercedarians
Dòng Đức Bà Thương Xót. Là một Dòng tu nam giới, do thánh Phêrô Nolasco thành lập khoảng năm 1220, và do đó còn gọi là Dòng Nolascan. Lúc ban đầu Dòng này có hai mục đích chính là chăm sóc bệnh nhân và giải thoát các Kitô hữu bị người Hồi giáo bắt giữ. Luật Dòng phái sinh từ luật thánh Raymond Peñafort (1175-1275). Ngoài việc khấn ba lời khấn thường lệ, các tu sĩ Dòng còn khấn trở thành con tin nếu cần, để giải cứu các tù nhân Kitô hữu. Một Dòng nữ tương ứng cũng được thành lập tại Seville, Tây Ban Nha, năm 1568. Dòng Đức Bà Thương Xót lấy tên như hiện nay từ truyền thống sùng kính Đức Bà Thương Xót. Còn tên chính thức của Dòng là Orden de Nuestra Señora de la Merced. Hiện nay tu sĩ Dòng dấn thân trong việc rao giảng, công tác ở bệnh viện và việc mục vụ.
Mercy
Thương xót, từ bi, khoan dung, nhân hậu. Là sự sẵn sàng sống dễ thương và tha thứ. Dựa trên nền tảng lòng trắc ẩn, lòng thương xót khác với sự thương cảm (compassion) hoặc cảm tình thông cảm (sympathy), khi đặt tình cảm này vào thực hành với sự sẵn lòng giúp đỡ. Do đó, nó là sự mong muốn sẵn sàng giúp đỡ người khác đang cần mình, nhất là cần sự tha thứ hay hòa giải.
Messalians
Phái duy cầu nguyện. Là một phái hành khất đạo đức, còn gọi là Euchite (phái duy kinh nghiệm), với danh từ này có nghĩa là “người duy cầu nguyện.” Phát sinh trong thế kỷ thứ tư ở Lưỡng Hà Địa (Mesopotamia), họ bị Công đồng Ephesus lên án năm 431, nhưng vẫn tồn tại cho đến thế kỷ thứ bảy. Họ chủ trương rằng, do tội của ông Adam (A-đam) mỗi người chúng ta có một con quỷ hiệp nhất chặt chẽ với linh hồn mình. Con quỷ này bị trục xuất một phần khi con người được rửa tội, và chỉ có thể bị trục xuất hoàn tòan bởi việc cầu nguyện liên lỉ và sống khổ hạnh. Bằng chứng cho sự giải thoát hoàn toàn này là sự loại bỏ mọi dục vọng và ước muốn xấu xa. Những ai đạt đến tình trạng ấy sẽ hưởng sự chiêm ngắm Chúa Ba Ngôi ngay ở đời này.
Messiah
Messiah, Đấng Mê-si-a, Đấng Thiên Sai. Tiếng Do Thái cổ này có nghĩa là “Đấng Chịu Xức Dầu.” Từ ngữ tương đương trong tiếng Hi Lạp là Christos. Trong Cựu Ước đôi khi từ ngữ được áp dụng theo nghĩa chung cho vị ngôn sứ và tư tế (Xh 30:30), nhưng một cách đặc biệt từ ngữ quy chiếu về sự sẽ đến của một vị báo hiệu một thời kỳ công chính và chiến thắng tội lỗi và sự dữ (Dn 9:26). Trong Tân Ước, các Thánh sử nói rõ ràng rằng người ta biết Chúa Giêsu là một Đấng Messiah được mong đợi từ lâu(Cv 2:36; Mt 16:17; Gl 3:24-29). Những người từ chối chấp nhận Chúa Giêsu, giải thích vương quốc được hứa là một vương quốc trần gian, và mong đợi một đấng messiah phải là thủ lĩnh quân đội để giúp Israel chiến thắng mọi quân thù của họ.
Messianic Banquet
Bàn tiệc Thiên sai. Là bàn tiệc tượng trưng được mô tả trong các Cuộn da Biển Chết, trong đó bánh và rượu được làm phép để dự báo Đấng Messiah (Đấng Mê-si-a) sẽ đến.
Metanoia
Metanoia, sám hối, cải thiện, thay đổi tâm thức. Theo nghĩa đen là sám hối, ăn năn. Từ ngữ này thường được dùng trong Tân Ước bằng tiếng Hi Lạp, đặc biệt trong các Tin Mừng và việc rao giảng của các thánh Tông đồ. Sám hối được diễn tả bằng lòng tin, phép rửa tội, việc xưng tội, và tạo ra các hoa quả xứng đáng với sự sám hối. Nó có nghĩa là sự thay đổi tâm hồn khỏi tội lỗi và thực thi nhân đức. Là cuộc trở lại, sám hối là nền tảng cho giáo huấn của Chúa Kitô, là điều đầu tiên mà thánh Phêrô đòi hỏi vào ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, và được xem là cần thiết cho việc theo đuổi đường trọn lành Kitô giáo. (Từ nguyên Hi Lạp metanoein, thay đổi ý nghĩ, ăn năn, sám hối, từ chữ meta- + noein, nhận thức, na ná chữ Hi Lạp Greek noos, tâm trí.)