1. Nhà lãnh đạo đơn vị tìm kiếm thi thể quân nhân Ukraine tử trận đã thiệt mạng khi đang khai quật thi thể.

Oleksii Yukov, 40 tuổi, nhà lãnh đạo đơn vị tìm kiếm Platsdarm của Ukraine, đã qua đời vào thứ Tư, ngày 5 tháng 8, sau hai thập niên cống hiến. Yukov đang khai quật thi thể một quân nhân Ukraine tử trận thì bom nổ khiến anh mất mạng. Quân Nga đã gài mìn trong thi thể của người quân nhân Ukraine xấu số này.

Theo báo Ukrainska Pravda, Yukov lớn lên ở Sloviansk, một thành phố ở phía bắc vùng Donetsk, và đã dành gần 27 năm để tìm kiếm hài cốt của các quân nhân tử trận và mất tích.

Khi còn là một thiếu niên, anh đã lần đầu tiên tham gia một nhóm khai quật các địa điểm chiến trường Thế chiến II, một hoạt động mà sau này đã định hình hướng đi trong sự nghiệp của anh.

Sau đó, anh trở thành nhà lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại Hiệp hội các nhà nghiên cứu về di sản quân sự và lịch sử Platsdarm vào năm 2014.

"Khi cuộc xâm lược toàn diện bắt đầu năm 2022, không chỉ có thêm nhiều việc mà còn nhiều đau khổ hơn", Yukov nói với Ukrainska Pravda, đồng thời cho biết thêm rằng anh "không thể tưởng tượng được mọi chuyện lại như thế này, mặc dù tôi hiểu rằng chiến tranh chưa kết thúc và Nga sẽ sớm trở lại."

Là một người Công Giáo, Yukov nói với báo Ukrainska Pravda về Kinh Mười Bốn Mối: Thương người có 14 mối, thương xác 7 mối. Và anh cho biết muốn dành cuộc đời mình cho mối thứ 7, chôn xác kẻ chết.

"Nhưng hồi đó, mọi người đều cười nhạo chuyện đó," anh nói tiếp.

Theo United24Media, Yukov đã mở rộng phạm vi hoạt động sang tìm kiếm cả thương vong dân sự và quân sự, đồng thời nhóm của anh đảm nhận thêm nhiệm vụ thu hồi hài cốt binh sĩ Nga để sử dụng trong các cuộc trao đổi tù binh và hồi hương.

Trong hơn bốn năm lăn lộn trong cuộc xâm lược của Nga, nhóm của Yukov đã tìm thấy hài cốt của hơn 3.500 binh sĩ.

Anh mô tả quy trình này với tờ Ukrainska Pravda, giải thích rằng đơn vị tìm kiếm sẽ khảo sát các khu vực bằng máy bay điều khiển từ xa, rà phá bom mìn với sự hỗ trợ của các chuyên gia giải quyết bom, và chỉ sau đó mới tiến hành tìm kiếm hài cốt một cách có hệ thống.

"Chúng tôi luôn khởi hành từ sáng sớm," Yukov nói, và cho biết thêm rằng đơn vị của anh thường làm việc đến tận khuya, đôi khi thậm chí còn cắm trại qua đêm ngoài chiến trường.

"Nhiều thi thể bị động vật kéo đi," anh nói tiếp. "Chúng tôi đã tìm thấy răng, xương ngón tay và các mảnh xương" trong phân động vật - "những thứ không được tiêu hóa."

Một chấn thương suýt chết người vào năm 2023

Theo báo Ukrainska Pravda, trước đó Yukov đã thoát chết trong gang tấc sau một vết thương nguy hiểm ở vùng Kharkiv khi đang tìm kiếm hài cốt của một người lính tử trận.

"Tôi cứ tiếp tục tiến hành như mọi khi," anh nói.

"Tôi đang đi bộ thì nghe thấy một tiếng tách. Tôi lập tức nhảy sang một bên – và sau đó là tiếng nổ," Yukov nói trong một cuộc phỏng vấn trước đó, mô tả vết thương khiến anh mất một mắt.

"Ống kính bảo hộ chiến thuật đã bị đâm xuyên thủng khiến tôi bị mất một con mắt" anh nói.

Chỉ trong vòng hai tuần, anh đã trở lại làm việc ở tiền tuyến, tiếp tục liều mình trong khi quân Nga vẫn tiếp tục oanh tạc.

Cái chết của Yukov làm nổi bật một mối đe dọa vượt xa chiến tuyến, lan rộng đến hầu hết mọi giai đoạn trong quá trình hồi hương của Ukraine.

Giới chức Ukraine đã báo cáo việc tìm thấy các thiết bị nổ, bao gồm cả lựu đạn, được giấu bên trong hài cốt của các binh sĩ được hồi hương từ Nga, khiến việc kiểm tra an toàn trở thành bước bắt buộc trước khi bất kỳ công tác nhận dạng nào có thể bắt đầu.

Theo Taras Tarasenko, phó trưởng phòng điều tra thuộc sở cảnh sát quốc gia vùng Kirovohrad, các điều tra viên đôi khi nhận được tới 250 thi thể cùng một lúc, khiến việc giải quyết tất cả trong một ngày là điều không thể.

Các nhà điều tra cũng cho biết đã nhận được hài cốt lẫn lộn của nhiều cá nhân khác nhau, cần phải được phân tách thông qua xét nghiệm ADN trước khi thông báo cho bất kỳ gia đình nào, điều này có nghĩa là nhiều năm có thể trôi qua giữa thời điểm một người mất tích và thời điểm được xác định danh tính.



2. Một người đàn ông ở Las Cruces đối mặt với tội danh vi phạm luật vũ khí liên bang sau khi bị cáo buộc nổ súng vào một nhà thờ.

Hôm Thứ Ba, 04 Tháng Tám, Văn phòng Công tố viên Hoa Kỳ khu vực New Mexico cho biết một người đàn ông ở Las Cruces, từng có tiền án hình sự, đã bị buộc tội tại tòa án liên bang về tội sở hữu vũ khí trái phép sau khi bị cáo buộc nổ súng vào một nhà thờ.

Theo Văn phòng Công tố viên Hoa Kỳ, Matthew Albain Alarcon, 40 tuổi, bị cáo buộc đã bắn vào lối vào nhà thờ Công Giáo St. Genevieve.

Theo tài liệu tòa án, vào ngày 4 tháng 5, cảnh sát Las Cruces đã phát hiện năm vết đạn trên cửa kính lối vào nhà thờ.

Văn phòng Công tố viên Hoa Kỳ cho biết video cho thấy một chiếc xe sedan màu đen dừng lại trước nhà thờ, Alarcon được tường trình đã bước ra và bắn nhiều phát đạn vào lối vào, sau đó rời khỏi khu vực.

Ngày 11 tháng 5, các sĩ quan đã tìm thấy chiếc xe sedan khi đang ứng phó với một vụ đột nhập bất thành ở Las Cruces. Văn phòng Công tố viên Hoa Kỳ cho biết lệnh khám xét được thực hiện trên chiếc xe sedan đã dẫn đến việc thu hồi một khẩu súng ngắn.

Cảnh sát đã bắt giữ Alarcon vào ngày 14 tháng 5. Theo thông tin trước đó từ ABC-7, anh ta phải đối mặt với các tội danh hình sự bao gồm xúc phạm nhà thờ, tàng trữ súng bị đánh cắp, làm giả chứng cứ, sở hữu dụng cụ trộm cắp, âm mưu trộm cắp và hai tội danh đồng phạm.

Theo Văn phòng Công tố viên Hoa Kỳ, trong một cuộc phỏng vấn, Alarcon được tường trình đã thừa nhận việc xả súng vào nhà thờ. Anh ta nói rằng mình làm vậy vì niềm tin tôn giáo và vì tin rằng mình là "người được chọn" để thực hiện hành động đó.

Các quan chức cho biết Alarcon cũng thừa nhận sở hữu khẩu súng mà nhà chức trách tìm thấy.

Theo Văn phòng Công tố viên Hoa Kỳ, Alarcon bị cấm sở hữu súng hoặc đạn dược do trước đó đã bị kết án trọng tội ở New Mexico về tội tàng trữ chất ma túy.

Anh ta bị buộc tội tàng trữ vũ khí và đạn dược trái phép. Anh ta sẽ bị giam giữ chờ xét xử, thời điểm xét xử vẫn chưa được ấn định.

Nếu bị kết tội, Alarcon có thể phải đối mặt với án tù lên đến 15 năm.


Source:KVIA



3. Nhật ký trừ tà #399: Phải chăng chiếc ghế của tôi đã bị nguyền rủa?

Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ vừa có bài viết nhan đề " Exorcist Diary #399: Was My Bench Cursed?", nghĩa là " Nhật ký trừ tà #399: Phải chăng chiếc ghế của tôi đã bị nguyền rủa?". Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Tôi thường cầu nguyện vào ban đêm khi cả thế giới chìm trong bóng tối và tĩnh lặng. Thật dễ dàng hơn để tìm được khoảng thời gian dài để cầu nguyện khi mọi người đều ngủ say. Thánh Conchita, một nhà thần bí, tác giả người Mễ Tây Cơ và là mẹ của chín người con, thường đợi đến khi tất cả các con bà ngủ say mới cầu nguyện và viết. Bà ấy viết rất nhiều.

Nhưng buổi cầu nguyện tối hôm trước lại khác thường. Thay vì là khoảng thời gian bình yên, tôi cảm thấy vô cùng bồn chồn, không rõ lý do. Tôi hầu như không thể ngồi yên; tôi hoàn toàn bị phân tâm; và thời gian cầu nguyện thực sự mang lại cảm giác tiêu cực. Tôi tự hỏi liệu mình có nên cầu nguyện vào ban đêm hay không. Có điều gì đó thực sự không ổn.

Tôi không thể ngay lập tức nhận ra điều gì có thể gây ra sự suy giảm tiêu cực như vậy. Mặc dù có một điều khác biệt trong buổi cầu nguyện tối hôm đó. Ghế cầu nguyện thường lệ của tôi không có sẵn nên tôi đã dùng một chiếc ghế thay thế được gửi đến từ bên ngoài. Sau đó tôi nghe nói rằng người làm chiếc ghế thay thế đó có thể đã liên tục dính líu đến một số hành vi vô đạo đức.

Có phải chiếc ghế đá đã làm gián đoạn lời cầu nguyện của tôi? Phải chăng nó đã bị nguyền rủa? Vì vậy, tôi đã lấy một ít nước thánh và rưới lên nó. Sau đó, tôi đọc những lời cầu nguyện giải thoát và ra lệnh rõ ràng cho bất kỳ linh hồn ma quỷ nào trú ngụ ở đó phải rời đi. Tôi cũng đã hóa giải bất kỳ lời nguyền nào có thể gắn liền với nó. Đêm hôm sau, tôi ngồi trên ghế đá và cầu nguyện. Mọi chuyện đều ổn. Những buổi cầu nguyện sau đó cũng diễn ra suôn sẻ. Mọi thứ trở lại bình thường. Hmmm...

Rất dễ phản ứng thái quá và nhìn thấy ma quỷ và lời nguyền rủa ở khắp mọi nơi. Nhưng ma quỷ thực sự tồn tại, và những lời nguyền rủa độc ác cũng vậy. Mặc dù người hết lòng theo Chúa Giêsu phần lớn được bảo vệ, nhưng những thế lực tà ác như vậy chắc chắn có thể gây ra sự xáo trộn và là nguyên nhân của sự quấy rối ma quỷ. Việc chiếc ghế đã từng nằm trong tay những người có thế lực tâm linh đáng ngờ và sự xáo trộn vẫn còn sau khi bị trừ tà là những dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy sự hiện diện của lời nguyền rủa đó.

Tóm lại? Luôn luôn tốt khi có nước thánh bên mình. Những người trừ tà thường xuyên chứng kiến hiệu quả của nó trong việc chống lại tà ác. Nước mang lại sự sống thể xác. Phước lành của Giáo hội mang lại sự sống tâm linh. Ma quỷ là những kẻ gieo rắc cái chết và chúng bị Chúa Giêsu, Đấng là "Sự Sống", đuổi ra.

Quan trọng hơn hết, ma quỷ và lời nguyền rủa có thể quấy nhiễu những người tín hữu nhưng ma quỷ không thể đánh bại họ. Một đêm cầu nguyện không thoải mái và một chút nước thánh đã nhắc nhở tôi một lần nữa về Đấng Tạo Hóa và Chúa Tể. Và giờ đây, tôi đã có một chiếc ghế dài được "lau chùi" sạch sẽ và trở thành một phần vững chắc của nhà nguyện.


Source:Catholic Exorcism



4. Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh là gì? Giải thích vị trí mới của Đức Tổng Giám Mục Cordileone tại Vatican.

Tuần này, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã bổ nhiệm bảy thành viên mới vào tòa án cao nhất của Giáo hội, đó là Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh, tên tiếng Anh là Apostolic Signatura. Trong số những vị được bổ nhiệm có hai người Mỹ: Đức Tổng Giám Mục Salvatore Cordileone của San Francisco — người từng giữ chức trợ lý cho Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh từ năm 1995 đến năm 2002 — và Đức Giám Mục Edward Lohse của Kalamazoo, Michigan.

Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh là cơ quan tư pháp cao nhất theo luật giáo hội. Apostolic Signatura dịch sát từng chữ có nghĩa là "Chữ Ký Của Tông Tòa". Tên gọi của tòa án này xuất phát từ mục đích ban đầu là tiếp nhận các thỉnh nguyện gửi đến Tòa Thánh và chuẩn bị chúng để Đức Giáo Hoàng ký tên - "signatura". Tòa án được thành lập với hình thức hiện tại vào năm 1908 bởi Đức Giáo Hoàng Piô X.

Năm 2008, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã sửa đổi luật để cho phép những người không phải giám mục được phục vụ trong tòa án. Tuy nhiên, phải đợi đến những bổ nhiệm gần đây của Đức Giáo Hoàng Lêô — bao gồm ba linh mục — mới đánh dấu lần đầu tiên những vị không phải giám mục thực sự trở thành thành viên.

Nhưng "Tối Cao Pháp Viện" của Giáo hội sẽ giải quyết những loại vụ án nào? Và liệu việc trở thành thành viên của tòa án có đòi hỏi các tân thẩm phán người Mỹ phải từ bỏ giáo phận của mình và chuyển đến Rôma hay không?

Dưới đây là ba điều cần biết về Tối Cao Pháp Viện và các thành viên của Tòa.

Thứ nhất: Đây là tòa án cao nhất trong ba tòa án quan trọng nhất tại Vatican.

Là một phần của Giáo triều Rôma, Tối Cao Pháp Viện là tòa án cao nhất của Giáo hội và là một phần trung tâm trong việc cai quản Giáo hội toàn cầu của Đức Giáo Hoàng. (Không tòa án nào có quyền lực cao hơn Đức Giáo Hoàng, nhà lãnh đạo Giáo hội trên trái đất, có thẩm quyền tối cao để xét xử các vụ án và giải quyết dứt điểm các tranh chấp pháp lý). Bản thân Tối Cao Pháp Viện do một Hồng Y đứng đầu, hiện là Hồng Y người Ý Dominique Mamberti, người được Đức Giáo Hoàng Phanxicô bổ nhiệm năm 2014. Các thành viên của Tòa án phục vụ nhiệm kỳ năm năm và có thể gia hạn.

Tối Cao Pháp Viện giám sát tất cả các tòa án khác trong Giáo hội. Các tòa án khác trong Giáo hội là những tòa nào. Thưa: Trước hết, mỗi giáo phận trên thế giới đều có một tòa án giáo phận do chính Giám Mục bản quyền chủ tọa hay qua một linh mục đại diện tư pháp. Tòa án Giáo phận là tòa án địa phương của Giáo Hội, thường gọi là tòa án cấp một hay sơ cấp. Thông thường, các vụ án trong Giáo Hội thường được giải quyết ở cấp giáo phận, trừ khi có kháng án thì vụ án mới được chuyển qua xử ở cấp hai là Tòa án Tổng Giáo phận; hay kháng án ở tòa án cấp cao hơn nữa là Tòa Thượng Thẩm Rota ở Roma.

Tại Vatican còn có hai tòa án "cao cấp" khác. Thứ nhất là Tòa Thượng Thẩm Rota thường đóng vai trò là tòa phúc thẩm đối với các tòa án cấp dưới, và chủ yếu giải quyết các vụ án liên quan đến việc tiêu hôn, mặc dù tòa này có thẩm quyền xét xử bất kỳ vụ án nào trong bất kỳ lĩnh vực nào của giáo luật.

Thứ hai là Tòa Ân Giải Tối Cao - Apostolic Penitentiary - chuyên giải quyết các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng – chẳng hạn như xúc phạm Thánh Thể – mà việc tha tội thuộc về Tòa Thánh. Là một phần trong vai trò này, Tòa Ân Giải Tối Cao có thể xóa bỏ các hình phạt thiêng liêng liên quan đến những tội trọng đó, chẳng hạn như vạ tuyệt thông. Tòa Ân Giải Tối Cao cũng chuyên giải quyết việc ban và sử dụng các ơn xá, chẳng hạn như những Ơn Toàn Xá được ban cho các tín hữu trong Năm Thánh.

Tối Cao Pháp Viện, Tòa Thượng Thẩm Rota và Tòa Ân Giải Tối Cao được gọi là các Cơ quan Tư pháp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Bộ Giáo lý Đức tin cũng có một tòa án Tối Cao riêng, xét xử các "tội trọng phạm đến đạo đức và các liên quan đến việc cử hành các bí tích", bao gồm cả lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên.

Thứ hai: Tối Cao Pháp Viện xem xét các quyết định cấp thấp hơn — bao gồm cả việc đóng cửa các giáo xứ.

Vai trò trọng tâm của Tối Cao Pháp Viện là giám sát việc thực thi công lý trong toàn Giáo hội, bao gồm việc xem xét lại các quyết định do các tòa án cấp dưới hoặc các giám mục đưa ra.

Tối Cao Pháp Viện có thể giám sát hàng trăm vụ việc trong một năm. Ví dụ, theo thông tin do Vatican công bố, năm 2024, văn phòng này đã giải quyết 763 vụ việc.

Một chức năng của Tòa Thánh mà các tín hữu Công Giáo bình thường có thể đã biết đến là việc kháng cáo để xem xét lại một hành động quản trị do giám mục giáo phận thực hiện, chẳng hạn như quyết định đóng cửa hoặc sáp nhập một giáo xứ. Một cá nhân hoặc nhóm có tư cách pháp lý theo giáo luật có thể kháng cáo hành động của giám mục về việc đóng cửa giáo xứ của họ bằng cách trước tiên kháng cáo lên bộ phận liên quan của Vatican, trong trường hợp này là Bộ Giáo sĩ; sau khi có quyết định của bộ này, vụ việc sau đó có thể được một trong hai bên kháng cáo lên Tòa Thánh.

Phần lớn công việc của Tối Cao Pháp Viện mang tính thủ tục, chẳng hạn như xem xét các yêu cầu miễn trừ điều kiện tất cả nhân viên tòa án phải có bằng giáo luật.

Tòa án này cũng giải quyết những tình huống nhạy cảm hơn, mặc dù chi tiết của hầu hết các vụ việc như vậy không được công khai. Bao gồm cả việc xem xét các quy trình dẫn đến việc giải thể các nhóm và hiệp hội trong Giáo hội, cũng như các vụ việc liên quan đến việc cách chức các linh mục quản xứ.

Tối Cao Pháp Viện cũng có thể xem xét và bác bỏ các quyết định của Tòa Thượng Thẩm Rota, mặc dù trong những trường hợp này, nó hoạt động như một tòa án phúc thẩm, nghĩa là nó chỉ xem xét các vấn đề thủ tục, chứ không phải giá trị nội tại của từng phán quyết liên quan đến các vụ án. Do trọng tâm hoạt động của Tòa Thượng Thẩm Rota, những vụ án này thường liên quan đến việc tiêu hôn.

Tối Cao Pháp Viện cũng là tòa án phúc thẩm tối cao của Thành quốc Vatican, giải quyết các tranh chấp liên quan đến quản trị dân sự của nhà nước.

Ngoài các vấn đề liên quan đến Đức Giáo Hoàng hoặc các thể chế thuộc Giáo triều khác, Tòa Thánh còn giải quyết các tranh chấp hành chính khác, bao gồm các xung đột về thẩm quyền giữa các cơ quan của Vatican và giữa các cơ quan này với Phủ Quốc vụ khanh.

Thứ ba: Những vị người Mỹ đã từng được bổ nhiệm tại Tối Cao Pháp Viện trước đây.

Đức Tổng Giám Mục Cordileone và Đức Giám Mục Lohse không phải là những vị giáo sĩ người Mỹ đầu tiên phục vụ trong Tối Cao Pháp Viện. Cựu Tổng Giám Mục của St. Louis, Hồng Y Raymond Burke, lần đầu tiên được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 bổ nhiệm làm thành viên vào năm 2006, trước khi được thăng chức lên làm chánh án Tối Cao Pháp Viện vào năm 2008. Năm 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cách chức ngài khỏi tòa án khi bổ nhiệm ngài làm linh hướng cho Dòng Hiệp sĩ Malta, nhưng sau đó lại bổ nhiệm lại vị Hồng Y người Mỹ này làm thành viên thường trực vào năm 2017. Tư cách thành viên của Hồng Y Burke được gia hạn vào năm 2022, và nhiệm kỳ hiện tại của ngài kéo dài đến năm 2027.

Hồng Y James Harvey, một người Mỹ khác và là Giám quản của đền thờ Thánh Phaolô Ngoại thành ở Rôma, sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò hiện tại trong Tối Cao Pháp Viện cho đến khi ngài tròn 80 tuổi, khoảng bốn năm nữa.

Hai vị giám mục người Mỹ từng là thành viên của Tối Cao Pháp Viện đã kết thúc nhiệm kỳ của mình trong năm nay. Hồng Y Joseph Tobin của Newark, New Jersey, đã phục vụ trong Tối Cao Pháp Viện này từ khi được Đức Giáo Hoàng Phanxicô bổ nhiệm vào năm 2021, và nay đã hoàn thành nhiệm kỳ 5 năm của mình. Giám mục Mark Leonard Bartchak của Altoona-Johnstown, Pennsylvania, cũng đã kết thúc nhiệm kỳ của mình. Đức Giáo Hoàng Lêô không gia hạn nhiệm kỳ cho cả hai người.

Các thành viên của Tối Cao Pháp Viện được Đức Giáo Hoàng lựa chọn dựa trên chuyên môn về luật giáo hội và do đó có thể bao gồm nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau. Ví dụ, Hồng Y Burke thường được coi là một trong những tiếng nói truyền thống hơn trong Giáo hội. Ngài đã phục vụ cùng với các giám mục nổi tiếng là cấp tiến, chẳng hạn như Hồng Y Tobin và Hồng Y Mario Grech, tổng thư ký của Thượng hội đồng Giám mục.

Mặc dù đảm nhận các vai trò mới tại Vatican, Đức Tổng Giám Mục Cordileone và Đức Giám Mục Lohse sẽ không chuyển đến Rôma. Thay vào đó, các thành viên mới của Hội đồng Giám mục sẽ tiếp tục giữ chức vụ nhà lãnh đạo giáo phận của mình. Các ngài sẽ đến Rôma "thường xuyên nhất có thể", Đức Tổng Giám Mục Cordileone nói với Raymond Arroyo trong một cuộc phỏng vấn gần đây, có lẽ "ba hoặc bốn lần một năm".

Các thành viên của Tối Cao Pháp Viện hiện đang ở Rôma sẽ gặp gỡ thường xuyên hơn. Tất cả các thành viên sẽ họp ít nhất một lần một năm cho các phiên họp toàn thể của Giáo triều.


Source:National Catholic Register