Trên trang mạng Catholic Herald ngày 11 tháng 3 năm 2026, Cha Dwight Longenecker (*) cho hay:

Cách đây hơn ba mươi năm, tôi đang phục vụ với tư cách là một linh mục trong Giáo hội Anh. Vào thời điểm đó, cuộc tranh luận về việc phong chức linh mục cho phụ nữ đã lên đến tuyệt đỉnh. Tôi là cha xứ của hai giáo xứ nông thôn trên đảo Wight và cuộc xung đột gay gắt diễn ra ở mọi bình diện trong Giáo hội – trong các gia đình, trong các hội đồng giáo xứ, các hội đồng giáo hạt, các hội đồng giáo phận và cuối cùng là trong cơ quan điều hành của Giáo hội, Thượng Hội đồng Tổng quát.

Có những lập luận được đưa ra từ cả hai phía từ thần học, Kinh Thánh, tâm lý học, xã hội học và lịch sử Giáo hội, nhưng trong trường hợp không có bất cứ thẩm quyền tối thượng nào được nhất trí, những lập luận được nghe rộng rãi nhất ủng hộ sự đổi mới này thuộc ba loại: thực dụng, chính trị và tình cảm.

Lập luận thực dụng có lẽ là thuyết phục nhất trong ba loại: ‘Susie có thể làm công việc đó tốt như một người đàn ông.’ Chúng ta có nữ bác sĩ, nữ thủ tướng, phụ nữ trong tất cả các ngành nghề hàng đầu. Tại sao lại không có nữ giáo sĩ?’ Lập luận chính trị xoay quanh quyền bình đẳng: ‘Việc chỉ có nam giới làm linh mục là có tính tổ phụ và áp bức. Đây là vấn đề công lý và quyền bình đẳng!’ Kết hợp với hai lập luận đầu tiên, lập luận tình cảm dường như đã đóng ấn chấp thuận vấn đề: ‘Bạn biết đấy, Susie là một người tuyệt vời, sùng đạo. Bà ấy và chồng là những người tốt bụng! Con cái của họ rất đáng yêu và bà ấy thích đan len, thăm người già và dắt hai chú chó Labrador của mình, Poppy và George, đi dạo! Bà ấy cảm thấy được ơn gọi làm linh mục. Chúng ta là ai mà dám từ chối bà ấy? Từ chối bà ấy là quá tàn nhẫn!’

Những lập luận này đã thắng thế, nhưng chúng không quyết định được vấn đề. Cuộc bỏ phiếu đã chia rẽ Giáo hội Anh. Hàng trăm giáo sĩ và hàng ngàn giáo dân đã rời bỏ. Nhiều người gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Một số người đến câu lạc bộ đồng quê. Nhiều người không đi đâu cả. Trong ba mươi năm qua, những lập luận tương tự về việc phong chức cho phụ nữ đã làm suy yếu Giáo hội Anh trong các vấn đề đang diễn ra như việc phong chức giám mục cho phụ nữ, việc chấp nhận các mối quan hệ đồng tính và chúc phúc cho các mối quan hệ đồng tính, nhưng trong tất cả các lập luận có thể đưa ra, lập luận tình cảm đã thắng thế.

Điều này trở nên rõ ràng trong một cuộc họp của Thượng Hội đồng vào ngày 14 tháng 2 năm 2025 khi Sarah Mullally - khi đó là Giám mục Luân Đôn - bật khóc sau khi nói về những 'rào cản thể chế' và 'những hành vi phân biệt đối xử nhỏ nhặt' mà phụ nữ trong chức vụ mục sư vẫn phải chịu đựng. Sự suy sụp đáng xấu hổ đó đã được các thành viên Thượng Hội đồng tán thưởng, nhưng nó nhắc nhở tôi về một bài học dũng cảm về khả năng lãnh đạo mà tôi từng nghe khi đề cập đến những khó khăn khi phụ nữ và nam giới làm việc cùng nhau.

Người ta chỉ ra rằng khi ai đó khóc, họ ngay lập tức nhận được sự cảm thông, và sự cảm thông mà họ nhận được thường sẽ giúp họ thắng trong cuộc tranh luận. Nếu đó là một người phụ nữ khóc khi tranh luận với một người đàn ông, người ta cho rằng đó ít nhất là một hình thức bắt nạt, nhưng thậm chí có thể là một hình thức quấy rối tình dục tinh vi. Người phụ nữ đó đã dùng nước mắt (và do đó là giới tính của mình) như một vũ khí.

Người dẫn chương trình phàn nàn rằng trong chủ nghĩa bình đẳng nghiêm ngặt của chúng ta, người ta không thể nói rằng phụ nữ là phái yếu, nhưng họ được phép thể hiện sự yếu đuối của mình bằng cách khóc lóc và do đó khơi gợi sự cảm thông. Tất nhiên, các nữ giám mục không phải là người duy nhất được phép đóng vai nạn nhân theo cách này. Việc bắt nạt bằng cách khóc lóc là chiêu trò quen thuộc của bất cứ ai trong nền văn hóa của chúng ta có tham vọng quá lớn kết hợp với lập luận yếu kém và lý lịch sơ sài.

Chỉ khoảng một năm sau, Đại hội đồng Giáo hội Anh lại là nơi diễn ra một câu chuyện bi lụy lấy nước mắt khác. Vào tháng Hai năm nay, Mục sư Charlie Bączyk-Bell – một nhà hoạt động đồng tính – đã có bài phát biểu sau khi các thành viên của Đại hội đồng bác bỏ các động thái hướng tới việc chúc phúc cho các mối quan hệ đồng tính. Mục sư Bączyk-Bell đã rất tức giận và đổ lỗi cho các thành viên Đại hội đồng vì đã làm tổn thương ông và những người đồng tính khác. Bài phát biểu gay gắt của ông kết thúc bằng nước mắt và, tất nhiên, sự cảm thông dành cho ông và lý tưởng của ông.

Tôi không hề có ý định phủ nhận sức mạnh của cảm xúc – đặc biệt là trong tôn giáo. Chúng ta thường quá sợ hãi cảm xúc của mình và nghiêng về phía lý trí lạnh lùng và lập luận khách quan. Cảm xúc và đam mê chắc chắn là những khía cạnh quý giá của nhân vị và của diễn ngôn nhân bản. Tuy nhiên, điểm yếu của chúng ta là khi sự ủy mị trở thành lập luận duy nhất. Đó là đứa trẻ hư hỏng dậm chân và khóc lóc khi không được như ý muốn. Hãy đưa ra lập luận, và hãy đưa ra một cách nhiệt tình, nhưng đừng để lập luận không là gì khác ngoài đam mê.

Mặc dù tôi đã sử dụng các ví dụ từ Giáo hội Anh, nhưng rõ ràng là sự suy thoái vào vũng lầy của sự ủy mị chủ quan này là một phần của sự suy giảm chung hơn vào chủ nghĩa tương đối. Sự tự cho mình là nạn nhân và những kẻ bắt nạt hay khóc nhè ở khắp mọi nơi, và nếu không có một tiếng nói quyền lực bên ngoài được thống nhất, thì các cá nhân trong xã hội chúng ta có gì ngoài những mảnh dữ liệu ngày càng đáng ngờ, những ý kiến chủ quan và những cảm xúc thất thường?

Lý do tại sao sự thắng thế của sự ủy mị lại nguy hiểm đối với một xã hội ổn định và thịnh vượng là chúng ta không nhận thức được tác động xảo quyệt của sự ủy mị. Cảm giác thương cảm ngọt ngào khi chứng kiến nạn nhân của sự bất công dường như bất công không những khiến ta thương hại nạn nhân mà còn, ngọt ngào hơn nữa, khiến ta cảm thấy hài lòng về bản thân.

Các cảm xúc thiện cảm mang lại cho ta sự tự tin – một chút tự mãn như một cú hích tâm lý – và giống như tất cả những cảm giác hưng phấn nhân tạo, nó có thể gây nghiện. Ta nhanh chóng yêu mến nạn nhân và tìm kiếm thêm những nạn nhân khác để cảm thông, khiến bản thân cảm thấy mình càng đúng đắn hơn.

Xảo quyệt hơn nữa là sự kiện tinh tế này: chúng ta quên mất rằng có những biểu hiện cảm xúc khác ngoài những cảm xúc tốt đẹp. Sau những giọt nước mắt của nạn nhân luôn là những giọt nước mắt của sự thất vọng và giận dữ, và sau những cảm xúc thất vọng và giận dữ là cảm giác oán hận, những kế hoạch trả thù và thậm chí cả những hành động bạo lực. Một khi chúng ta chấp nhận rằng cảm xúc là lập luận duy nhất, thì cảm xúc sẽ trở nên tốt đẹp trong mắt chúng ta, và một khi chúng ta chấp nhận rằng tất cả cảm xúc đều tự nhiên và tốt đẹp, chúng ta sẽ chấp nhận những cảm xúc tiêu cực như oán giận, giận dữ và khao khát trả thù không chỉ là chính đáng mà còn tốt đẹp tự thân. Thật vậy, chúng ta sẽ tôn trọng nhà hoạt động giận dữ và nếu tham gia chiến dịch của họ, chúng ta sẽ sớm cảm thấy rất tốt về bản thân, và sự tự cho mình là đúng của nhà hoạt động giận dữ là một điều đáng sợ. Từ đó mà mọi hình thức cuồng tín cực đoan đều nảy sinh.

Vì vậy, câu thơ đáng nhớ trong bài thơ The Second Coming của Yeats, "Những người tốt nhất thiếu mọi niềm tin, trong khi những người tồi tệ nhất lại tràn đầy nhiệt huyết", nhắc nhở chúng ta về lời cảnh báo khắc nghiệt cuối cùng của ông về sự suy tàn văn hóa và sự xuống cấp xã hội: "trung tâm không thể giữ vững".

______________________________
(*) Cha Dwight Longenecker là tác giả của hơn hai mươi cuốn sách và hàng trăm bài báo cho nhiều ấn phẩm khác nhau. Hãy xem sách của ngài, đọc blog của ngài và liên hệ với ngài tại dwightlongenecker.com.