Ngày 01-02-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 02/02: Xin Mẹ dâng chúng con cho Chúa – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ - TGP Hà Nội
Giáo Hội Năm Châu
02:10 01/02/2026

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

Khi đã đủ thời gian, đến ngày các ngài phải được thanh tẩy theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, 23 như đã chép trong Luật Chúa rằng : “Mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa”. 24 Ông bà cũng lên để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. 25 Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. 26 Ông đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. 27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để làm điều người ta quen làm theo luật dạy, 28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng :

29“Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31Chúa đã dành sẵn cho muôn dân :
32Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.”

33 Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những điều người ta nói về Người. 34 Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi : “Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. 35 Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà. Như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra.”

36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ là bà An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, 37 rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, đêm ngày thờ phượng Thiên Chúa. 38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết thảy những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.

39 Khi hai ông bà đã hoàn tất mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về thành của mình là Na-da-rét, miền Ga-li-lê. 40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.

Đó là Lời Chúa
 
GẦN MÀ XA
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
17:54 01/02/2026
GẦN MÀ XA

“Bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa”.

“Có thể ở trong nhà thờ mà không ở trong Đức Kitô!” - Charles Spurgeon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng lễ Dâng Chúa vào Đền Thánh mời chúng ta tự hỏi, tôi thường vào nhà thờ để gặp Chúa, hay chỉ để chu toàn một việc đạo đức? Vì có thể ở trong nhà thờ mà không ở trong Đức Kitô - ‘gần mà xa’ là thế!

Lên đền thờ, Hài Nhi được ẵm vào nơi Thiên Chúa ngự. Nghịch lý thay, Đấng là Chủ bước vào nhà của mình như một người khách. Đó không chỉ là một nghi thức, nhưng là khởi đầu của một mầu nhiệm: Thiên Chúa đến trong dáng vẻ nhỏ bé, âm thầm. Simêon thấy ánh sáng; người khác chỉ thấy một đứa trẻ - một hiện diện, hai khoảng cách! Ngài đến âm thầm, để ai mở lòng thì thấy. Đền thờ rồi sẽ sụp đổ, nhưng điều thực sự rêu phong là lòng người. Khi trái tim không còn nhận ra Đấng đang ở giữa mình, thì dù đá còn nguyên, nơi thiêng thánh đã bắt đầu hoang phế từ bên trong. “Bi kịch của đời sống không phải Thiên Chúa vắng mặt, nhưng là chúng ta vắng mặt!” - Paul Tillich.

Thánh Thể không vắng, sự hiện diện không thiếu; điều có thể thiếu là cái nhìn của Simêon - đôi mắt biết chờ, tấm lòng biết khát. Thiên Chúa vẫn ở đó, không cưỡng ép lòng người. “Gần mà xa” - không vì Ngài lùi bước, nhưng vì trái tim khép lại. Và khi lòng khép, khoảng cách không đo bằng không gian, mà bằng sự dửng dưng. Ngày lễ hôm nay không chỉ nói về một Hài Nhi; nó hỏi mỗi chúng ta: đền thờ lòng tôi có nhận ra Đấng đang đến hay Ngài vẫn rất xa xôi?

Chúa Giêsu không chỉ được ẵm “vào đền thờ”, nhưng để chính mình được dâng như một của lễ; không để chiếm chỗ, nhưng để trao mình. Ngay từ phút đầu tiên lên Giêrusalem, đời Ngài đã là một hành trình hy tế - hiến trao, hiện diện - thuộc trọn về Cha. Vì thế, khoảng cách không nằm ở việc chúng ta có đến nhà thờ hay không, nhưng ở chỗ chúng ta có dám trở thành của lễ? Có thể hiện diện đều đặn, nhưng đời sống vẫn khép kín; gần bàn thờ mà chưa từng đặt mình lên bàn thờ. Khi chưa dám hiến trao, bạn và tôi vẫn còn đứng ngoài mầu nhiệm - vẫn ‘gần mà xa’. “Đối nghịch với tình yêu không phải là thù ghét, nhưng là dửng dưng!” - Elie Wiesel.

Anh Chị em,

Hài Nhi Giêsu được bế lên Giêrusalem để được tiến dâng; nhưng của lễ ấy không dừng ở nghi thức. Từ cánh tay của Maria, Ngài đi vào cuộc dâng hiến trọn đời. Giêrusalem chỉ là khởi điểm; Canvê mới là đỉnh cao. Ở đó, không còn đôi tay mẹ cha dâng thay, nhưng chính Ngài sẽ tự hiến. Nếu tại đền thờ, Ngài được đặt vào tay Chúa Cha, thì trên thập giá, Ngài đặt cả nhân loại vào tay Cha. Một đời bắt đầu bằng việc được dâng, và hoàn tất trong việc tự hiến - từ Đền Thờ bằng đá đến Đền Thờ Thập Giá, từ ánh nến hiền hoà đến máu và nước chảy tuôn - bừng lên ánh sáng cứu độ muôn dân. “Tự hiến là luật của hiện hữu!” - Edith Stein.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con lên đền thờ, mà chưa bước vào mầu nhiệm; con chạm bàn thờ, mà chưa đặt mình lên đó; dạy con tự hiến như Chúa, để không còn xa… mà gần!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Tổng Giám Mục Coakley cho biết, tranh luận về việc thực thi luật của ICE là vấn đề mà Giáo hội Hoa Kỳ không thể né tránh.
Vũ Văn An
14:16 01/02/2026

Đức Tổng Giám Mục Paul Coakley của Thành phố Oklahoma, chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, gặp Tổng thống Donald Trump tại Nhà Trắng vào ngày 12 tháng 1 năm 2026. | Nguồn: Nhà Trắng


Theo Tessa Gervasini, trong bản tin ngày 31 tháng 1 năm 2026 của EWNTNews, Đức Tổng Giám Mục Paul Coakley cho biết vấn đề nhập cư vẫn là “ưu tiên hàng đầu” đối với Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB).

Trong một cuộc phỏng vấn ngày 30 tháng 1 với “EWTN News In Depth”, ĐC Coakley đã thảo luận về “tình trạng bất ổn đang diễn ra ở các thành phố của chúng ta, đặc biệt là ở Minneapolis và sự bùng phát bạo lực”, sau cái chết gần đây của Alex Pretti, Một người đàn ông bị các đặc vụ liên bang bắn chết vào ngày 24 tháng 1.

Vụ việc đánh dấu cái chết thứ hai do các đặc vụ liên bang gây ra trong thành phố. Renee Good đã bị một đặc vụ Cục Nhập cư và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) bắn chết vào ngày 7 tháng 1.

Sau cái chết của Pretti, ĐC Coakley, chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB), đã kêu gọi các giám mục và linh mục anh em trên khắp Hoa Kỳ dành “một giờ cầu nguyện cho hòa bình”.

Ngài nói: “Tôi nghĩ rằng trước sự giận dữ, những phản ứng bạo lực đang diễn ra… chúng tôi cảm thấy cần phải thay đổi giọng điệu của các cuộc đối thoại và kêu gọi mọi người, không nhất thiết là để tránh bất cứ hình thức làm chứng công khai nào, mà thực sự là để kêu gọi mọi người làm chứng bằng lời cầu nguyện”.

Theo ngài, lời kêu gọi là “đưa tất cả lên Chúa trong Thánh Thể, để cầu xin ân sủng và sự hiện diện của Chúa, lòng can đảm và sự hướng dẫn của Chúa khi chúng ta đối diện với những tình huống rất khó khăn và đầy thách thức trên thực tế”.

Ngài nói thêm: Cuộc tranh luận hiện nay về ICE và lực lượng thực thi pháp luật “là một vấn đề mà chúng ta không thể tránh khỏi”. Tình hình này “ảnh hưởng đến rất nhiều người dân của chúng ta, cả người di cư, người nhập cư, cũng như lực lượng thực thi pháp luật.”

Nó cũng ảnh hưởng đến “những người đang tự hỏi, đặt câu hỏi trong lòng và trí óc của họ, đâu là phản ứng đúng đắn và thích hợp đối với người Công Giáo, đối với người Kitô hữu, đối với những người thiện chí khi đối diện với một tình huống gần như chưa từng có tiền lệ.”

Việc thực thi luật nhập cư là “ưu tiên hàng đầu… đối với tất cả chúng ta, như đã được thể hiện rõ ràng qua thông điệp đặc biệt mà chúng tôi đã đưa ra vào tháng 11 tại hội nghị mùa thu của chúng tôi.”

Ngài bảo: “Tôi nghĩ đó là thông điệp gần như được các giám mục Hoa Kỳ nhất trí thông qua”.

Làm việc với các nhà lãnh đạo quốc gia

ĐC Coakley đã gặp Tổng thống Donald Trump tại Nhà Trắng vào ngày 12 tháng 1, nơi họ thảo luận về các vấn đề nhập cư, bao gồm cả tình trạng tồn đọng thị thực cho các nhân viên tôn giáo.

ĐC Coakley nói: “Một điều chúng tôi nhận ra gần như ngay lập tức sau cuộc gặp đó là sự hỗ trợ dành cho thị thực R-1 cho nhiều nhân viên tôn giáo đang làm việc trên khắp đất nước chúng ta, những người đang phải đối diện với những trở ngại thực sự trong việc gia hạn thị thực và bổ nhiệm nhân sự cho các giáo xứ của chúng ta với tư cách là linh mục, nữ tu và các nhân viên tôn giáo ở khắp mọi nơi”.

Ngài cho biết: Chính quyền “đã lắng nghe và họ đã hiểu, và tôi hài lòng, ít nhất là tại thời điểm này, với tiến trình mà chúng ta đã đạt được cho đến nay. Tất nhiên, chúng tôi cũng đã thảo luận về các vấn đề khác trong thời gian tôi gặp ông ấy, bao gồm cả cải cách nhập cư có ý nghĩa.”

Trong khi người dân và các nhà lãnh đạo trên khắp nước Mỹ đều nhận thức rõ tình hình đang diễn biến ở Minneapolis, ĐC Coakley cho biết ngài sẽ “rất ngạc nhiên” nếu tình hình này không nằm trong tầm chú ý của Đức Giáo Hoàng Leo XIV.

Đức cha nói: “Tôi nghĩ ngài luôn được thông tin khá đầy đủ về những gì đang xảy ra ở Hoa Kỳ, vì đây là quê hương của ngài. Nhưng nó đã thu hút sự chú ý và đưa tin trên toàn thế giới. Vì vậy, nó chắc chắn phải nằm trong tầm quan sát của Đức Giáo Hoàng Leo và cũng là một vấn đề đáng quan tâm đối với ngài”.

Lời kêu gọi cầu nguyện và hành động

Trước đây, ĐC Coakley từng gọi tình hình này là thời điểm “sợ hãi và phân cực”. Trong cuộc phỏng vấn, ngài tiếp tục thảo luận về việc đất nước đã rơi vào tình trạng chia rẽ như thế nào và những người tín hữu có thể làm gì trong bối cảnh đó.

Ngài nói: “Tôi không nghĩ đó là điều xảy ra chỉ sau một đêm. Tôi nghĩ chúng ta đã trượt dốc theo hướng này trong nhiều năm. Nhưng tôi nghĩ chúng ta đã đến đây vì sợ hãi. Tôi nghĩ rằng nỗi sợ hãi là một công cụ của kẻ thù trong bản chất con người chúng ta, như Thánh Ignatius Loyola đã mô tả là ‘kẻ ác’.

Nó đang cố gắng chia rẽ chúng ta, khiến chúng ta mù quáng trước phẩm giá của anh chị em mình và phẩm giá do Chúa ban cho, được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Người”.

Để chống lại tình trạng này, ĐC Coakley khuyến khích các giáo xứ trên toàn quốc tổ chức Giờ Thánh và “hướng về Chúa, tìm kiếm ân sủng và sự hướng dẫn của Người.” Ngài cũng kêu gọi mọi người “hãy cẩn thận với nguồn thông tin mà chúng ta tiếp nhận. Bởi vì tôi nghi ngờ có một số phương tiện truyền thông đang lợi dụng những nỗi sợ hãi này, và chúng ta cần tránh trở thành con tốt thí trong việc xuyên tạc thông tin và sự thật, và thực sự bắt đầu bằng việc hướng về Chúa trong lời cầu nguyện, tìm kiếm ân sủng và sự hướng dẫn của Người”.

Những người tín hữu ở Minneapolis đang ‘“sợ hãi”

Trong một cuộc phỏng vấn sau đó với chương trình “EWTN News In Depth” vào ngày 30 tháng 1, Cha R.J. Fichtinger, một linh mục dòng Tên đang phục vụ tại Minneapolis, chia sẻ rằng các tín hữu trong khu vực đang “sợ hãi”.

Ngài nói: “Có một sự mệt mỏi lan rộng, một sự thất vọng lan rộng trong cộng đồng của chúng ta vì không cảm thấy mình có quyền tự quyết, khả năng tự mình đáp ứng các nhu cầu khác nhau”.

Trong thời điểm bất đồng, Cha Fichtinger khuyên các tín hữu hãy “làm những gì Chúa Giêsu đã làm” và “cầu nguyện”.

Ngài nói: “Tôi nghĩ bước đầu tiên thực sự là cầu nguyện có chủ đích. Sau đó, bước thứ hai là tách biệt con người khỏi hành động. Điều đó có thể thực sự khó khăn, nhưng đó là cảm giác mà chúng ta nhận ra rằng chúng ta có thể phán xét những hành động bất công”.

Ngài nói thêm: “Thực tại là thế giới của chúng ta rất phức tạp, và nghệ thuật có những cuộc trò chuyện khó khăn là điều mà tôi nghĩ chúng ta cần phải khám phá lại”.

Trong khi các giám mục kêu gọi cầu nguyện và thực hiện các Giờ Thánh, Cha Fichtinger nói: “Tôi không biết cách nào tốt hơn để dâng lời cầu nguyện lên Chúa hơn là bằng sự tôn thờ, trong bình an và trong lời cầu nguyện, trong sự tĩnh lặng tuyệt vời mà sự tôn thờ và ban phép lành có thể mang lại.”
 
Sự suy giảm đáng kể trong hôn nhân Công Giáo làm nổi bật nhu cầu về phản ứng chủ động của Giáo hội
Vũ Văn An
14:34 01/02/2026

Ảnh: Ivan Galashchuk/Shutterstock


Số lượng hôn nhân Công Giáo ở Hoa Kỳ đã giảm 75% trong khoảng 50 năm, ngay cả khi dân số Công Giáo tăng lên.

Daniel Payne, trong bản tin ngày 31 tháng 1 năm 2026 của EWNTNews, cho hay: Sự suy giảm mạnh trong hôn nhân Công Giáo ở Hoa Kỳ trong vài thập niên qua đang nhấn mạnh nhu cầu về sự hỗ trợ hôn nhân “chủ động” trong Giáo hội.

Dữ liệu do EWTN News thu được từ Danh bạ Công Giáo Chính thức cho thấy sự sụt giảm lớn trong hôn nhân Công Giáo ở Hoa Kỳ, từ khoảng 267,000 vào năm 2000 xuống chỉ còn 111,718 vào năm 2024, giảm gần 60%.

Sự sụt giảm thậm chí còn rõ rệt hơn khi so sánh với con số giữa thế kỷ: Năm 1970, có khoảng 426,000 cuộc hôn nhân Công Giáo ở Hoa Kỳ, so với khoảng 108,000 vào năm 2025, giảm khoảng 75%, mặc dù con số năm 2025 vẫn chỉ là tạm thời.

Những sự suy giảm này diễn ra ngay cả khi tổng số người Công Giáo ở Hoa Kỳ đã tăng lên, từ khoảng 47.8 triệu người Công Giáo năm 1970 lên 68 triệu người vào năm ngoái.

“Các yếu tố xã hội rộng lớn hơn” góp phần vào sự sụt giảm

Christian Meert, người sáng lập và chủ tịch của Agape Catholic Ministries có trụ sở tại Colorado, nói với EWTN News rằng xã hội “không hướng đến ‘hôn nhân’”.

Agape cung cấp các khóa chuẩn bị và bồi dưỡng hôn nhân Công Giáo cũng như các dịch vụ khác như hướng dẫn kế hoạch hóa gia đình tự nhiên. Meert lập luận rằng, việc chuẩn bị hôn nhân nên cung cấp “các kỹ năng quan hệ thực tế, giao tiếp, tài chính và sự hòa nhập đức tin” cho các cặp đôi sắp kết hôn.

Ông nói: Nhưng nhiều yếu tố khác nhau — bao gồm “sự trưởng thành muộn, tỷ lệ ly hôn cao, áp lực kinh tế, sự thay đổi ưu tiên, chủ nghĩa cá nhân gia tăng, sự phát triển của văn hóa hẹn hò, [và] sống chung không kết hôn” — đều góp phần làm giảm tỷ lệ kết hôn.

Sự suy giảm hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo diễn ra song song với sự suy giảm mạnh mẽ của hôn nhân trong toàn xã hội, Meert cho biết, mặc dù sự sụt giảm trong Giáo Hội Công Giáo “lớn hơn một cách không cân xứng”.

Ông bảo: “Đúng vậy, xã hội nói chung không giúp ích gì, các chính trị gia cũng không giúp ích gì, quá trình thế tục hóa và những thay đổi văn hóa đã làm xói mòn sự ủng hộ của xã hội đối với tất cả các thể chế tôn giáo.

Nhưng Giáo hội có thể thực hiện “các bước chủ động” để giúp đảo ngược sự suy giảm, ông nói, bao gồm việc thúc đẩy “không gian cộng đồng nơi những người trẻ tuổi có thể gặp gỡ và hình thành các mối quan hệ lành mạnh”, tập trung vào “việc hình thành hôn nhân cá nhân” thay vì các chương trình rộng rãi, “rẻ tiền” và thu hút các gia đình giáo xứ “đồng hành cùng các cặp đôi sắp cưới trong quá trình chuẩn bị hôn nhân và sau đó”.

Các nhà lãnh đạo Giáo hội thường xuyên kêu gọi một nền văn hóa hôn nhân lành mạnh và hiệu quả hơn. Tháng 11 năm 2025, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã kêu gọi Tòa Rota tránh “lòng thương xót giả tạo” khi xem xét việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu, đồng thời cảnh báo một lần nữa vào ngày 26 tháng 1 về “các quyết định mục vụ [về việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu] thiếu nền tảng khách quan vững chắc”.

Trong khi đó, vào năm 2024, các giám mục Hoa Kỳ đã công bố sáng kiến “Tình yêu có ý nghĩa hơn”, một sáng kiến nhằm “mang lại sự rõ ràng và lòng trắc ẩn” cho các vấn đề xung quanh tình yêu, hôn nhân và tình dục.

Thêm nhiều nỗ lực nữa đến từ các tín hữu giáo dân. Năm 2025, Emily Wilson-Hussem và chồng, Daniël, đã ra mắt một ứng dụng hẹn hò Công Giáo mới, “SacredSpark”, mà Wilson-Hussem mô tả là nơi “chúng ta có thể kết nối những người sẽ xây dựng Giáo hội vì họ đã bước vào hôn nhân bí tích và sẽ xây dựng gia đình”.

Trong khi đó, tổ chức Life-Giving Wounds (Những Vết Thương Ban Sự Sống) — được thành lập vào năm 2020 bởi vợ chồng Daniel và Bethany Meola — phục vụ những người con trưởng thành của các cặp vợ chồng ly hôn, giúp họ vượt qua nỗi đau và tổn thương do cha mẹ ly hôn để củng cố hôn nhân của chính họ.

Trong một bài giảng vào tháng 6 năm 2025, Đức Giáo Hoàng Leo đã mô tả hôn nhân là “không phải là một lý tưởng mà là thước đo của tình yêu đích thực giữa một người đàn ông và một người đàn bà”, một tình yêu “trọn vẹn, chung thủy và sinh sôi nảy nở”.

Đức Thánh Cha nói: “Trong gia đình, đức tin được truyền lại cùng với sự sống, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nó được chia sẻ như thức ăn trên bàn ăn gia đình và như tình yêu trong trái tim chúng ta”.

Sự suy giảm hôn nhân thậm chí đã trở thành một phần của diễn ngôn thế tục, khi các chuyên gia cảnh báo rằng sự sụt giảm mạnh về tỷ lệ sinh ở hầu hết các nước phát triển có thể liên quan một phần đến sự suy giảm tỷ lệ kết hôn và các nhà hoạch định chính sách muốn khuyến khích sinh nhiều hơn cũng nên khuyến khích nhiều cuộc hôn nhân hơn.

Trong khi đó, bà Meert cho biết các gia đình Công Giáo nên nêu gương tốt cho giới trẻ noi theo trong đức tin và trong hôn nhân. Ông phản bác lập luận cho rằng “mọi lỗi lầm đều đổ dồn lên giới giáo sĩ” vì đã không truyền đạt giáo lý Công Giáo cho các tín hữu trong vài thập kỷ qua.

“Cha mẹ và ông bà đang nêu gương gì cho con cháu? Họ thực hành đức tin của mình như thế nào? Họ truyền đạt đức tin của mình ra sao?” ông nói. “Khi chúng ta thấy tỷ lệ ly hôn gia tăng, các gia đình không thực hành đức tin, không đến nhà thờ, không tích cực tham gia vào giáo xứ của mình — chúng ta có thể mong đợi điều gì?”

Ông nói: “Chúng ta, Giáo hội, toàn thể cộng đồng tín hữu, chẳng phải tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm sao?”
 
Sứ điệp lúc đọc kinh Truyền tin của Đức Leo XIV
Vũ Văn An
15:02 01/02/2026

Vatican Media


Theo tin Tòa Thánh, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Chúa nhật, ngày 1 tháng 2 năm 2026, Đức Leo XIV đa chủ trì buổi đọc kinh Truyền Tin với rất nhiều tín hữu tụ tập tại Quảng trường. Sau đây là sứ điệp của Đức Thánh Cha trước và sau khi đọc kinh Truyền tin, theo bản tiếng Anh của Tòa Thánh:

Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật vui vẻ!

Phụng vụ hôm nay công bố một đoạn hay từ Tin Mừng đó là Chúa Giêsu loan báo cho toàn thể nhân loại: Tin Mừng về các Mối Phúc (Mt 5:1-12). Đây thực sự là những ngọn đèn mà Chúa thắp lên trong bóng tối của lịch sử, tiết lộ kế hoạch cứu độ mà Chúa Cha thực hiện qua Chúa Con, với quyền năng của Chúa Thánh Thần.

Trên núi, Chúa Kitô ban cho các môn đệ luật mới, không còn được viết trên đá nữa. Đó là luật đổi mới cuộc sống của chúng ta và làm cho chúng ta tốt lành, ngay cả khi thế giới dường như đã bỏ rơi chúng ta và đầy rẫy đau khổ. Chỉ có Thiên Chúa mới thực sự gọi những người nghèo khổ và đau buồn là những người được chúc phúc (xem câu 3-4), bởi vì Người là điều thiện tối cao, Đấng hiến thân cho tất cả với tình yêu vô bờ bến. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thỏa mãn những ai tìm kiếm hòa bình và công lý (xem câu 6,9), bởi vì Người là thẩm phán công chính của thế gian và là tác giả của hòa bình đời đời. Chỉ nơi Thiên Chúa, những người hiền lành, thương xót và có lòng trong sạch mới tìm thấy niềm vui (câu 5,7-8), bởi vì Người là sự viên mãn của những kỳ vọng của họ. Trong sự bách hại, Thiên Chúa là nguồn cứu chuộc; trong sự gian dối, Người là neo giữ chân lý. Vì vậy, Chúa Giêsu tuyên bố: “Hãy vui mừng và hân hoan!” (câu 12).

Những lời chúc phúc này chỉ là nghịch lý đối với những người tin rằng Thiên Chúa khác với cách mà Chúa Kitô mặc khải về Người. Những người mong đợi kẻ kiêu ngạo luôn cai trị trái đất sẽ ngạc nhiên trước lời của Chúa. Những người quen nghĩ rằng hạnh phúc thuộc về người giàu có thể tin rằng Chúa Giêsu bị lầm lạc. Tuy nhiên, sự lầm lạc nằm chính ở chỗ thiếu đức tin vào Chúa Kitô. Người là người nghèo chia sẻ cuộc sống của mình với mọi người, là người hiền lành kiên trì chịu đựng đau khổ, là người kiến tạo hòa bình bị bách hại đến chết trên thập giá.

Bằng cách này, Chúa Giêsu soi sáng ý nghĩa của lịch sử. Lịch sử không còn được viết bởi những kẻ chinh phục, mà là bởi Thiên Chúa, Đấng có thể hoàn thành nó bằng cách cứu chuộc những người bị áp bức. Con nhìn thế giới qua tình yêu của Cha. Mặt khác, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói, có những “chuyên gia về ảo tưởng. Chúng ta không nên đi theo họ vì họ không thể cho chúng ta hy vọng” (Kinh Truyền Tin, ngày 17 tháng 2 năm 2019). Thay vào đó, Thiên Chúa ban hy vọng này chủ yếu cho những người mà thế giới coi là vô vọng.

Vì vậy, anh chị em thân mến, các Mối Phúc trở thành thước đo hạnh phúc cho chúng ta, dẫn chúng ta đến việc tự hỏi liệu chúng ta coi đó là một thành tựu có thể mua được hay một món quà để chia sẻ; liệu chúng ta đặt nó vào những vật chất được tiêu thụ hay vào những mối quan hệ đồng hành cùng chúng ta. Thật vậy, chính nhờ Chúa Kitô (xem Mt 5:11) và nhờ Người mà sự cay đắng của những thử thách được biến đổi thành niềm vui của những người được cứu chuộc. Chúa Giêsu không nói về một sự an ủi xa vời, mà là về một ân sủng liên tục luôn nâng đỡ chúng ta, đặc biệt là trong những lúc đau khổ.

Các Mối Phúc nâng đỡ người khiêm nhường và xua tan sự kiêu ngạo trong thâm tâm (xem Lc 1:51). Vì vậy, chúng ta xin Đức Mẹ Maria, tôi tớ Chúa, người mà muôn đời đều gọi là người được chúc phúc, cầu bầu cho chúng ta.

Sau Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa nhận được tin rất đáng lo ngại về sự gia tăng căng thẳng giữa Cuba và Hoa Kỳ, hai quốc gia láng giềng. Tôi nhắc lại thông điệp của các giám mục Cuba, kêu gọi tất cả các bên có trách nhiệm thúc đẩy một cuộc đối thoại chân thành và hiệu quả, để tránh bạo lực và mọi hành động có thể làm gia tăng đau khổ cho người dân Cuba thân yêu. Xin Đức Mẹ Maria che chở và bảo vệ tất cả trẻ em của đất nước thân yêu ấy!

Thứ Sáu tới, Thế vận hội Mùa đông Milan-Cortina sẽ bắt đầu, tiếp theo là Thế vận hội Paralympic. Tôi gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến các nhà tổ chức và tất cả các vận động viên. Những sự kiện thể thao tuyệt vời này gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về tình huynh đệ và khơi dậy hy vọng về một thế giới hòa bình. Đây cũng là ý nghĩa của thỏa thuận ngừng bắn Olympic, một phong tục cổ xưa đi kèm với Thế vận hội. Tôi hy vọng rằng tất cả những người quan tâm đến hòa bình giữa các dân tộc và đang nắm giữ các vị trí có thẩm quyền sẽ tận dụng cơ hội này để thực hiện những hành động cụ thể nhằm hòa giải và đối thoại.

Hôm nay tại Ý là “Ngày Quốc gia tưởng niệm các nạn nhân dân sự của chiến tranh và xung đột trên toàn thế giới”. Thật không may, sáng kiến này vẫn còn mang tính thời sự một cách bi thảm. Mỗi ngày đều có thêm nhiều nạn nhân dân sự của các hành động vũ trang, những hành động vi phạm trắng trợn đạo đức và pháp luật. Những người đã chết và bị thương của ngày hôm qua và hôm nay sẽ thực sự được tôn vinh khi sự bất công không thể dung thứ này chấm dứt.

Tôi đảm bảo với anh chị em rằng tôi sẽ cầu nguyện cho những người đã khuất và cho những người đang chịu đau khổ do các cơn bão đã tàn phá Bồ Đào Nha và miền nam Ý trong những ngày gần đây. Chúng ta cũng đừng quên người dân Mozambique, những người đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi lũ lụt.

Tôi gửi lời chào đến tất cả anh chị em, những người dân Rome thân mến và những người hành hương từ khắp các quốc gia!

Đặc biệt, tôi rất vui mừng chào đón các thành viên của phong trào Luce-Vita thuộc Giáo phận Siedlce, Ba Lan, cùng với Giám Mục Phụ Tá của họ. Tôi chào mừng các nhóm tín hữu từ Ba Lan.

Tôi cũng gửi lời chào đến các tín hữu của Đức Mẹ Phép Lạ Corbetta ở Argentina, từ Chojnice, Warsaw, Wrocław và Wagrowiec ở Ba Lan, từ Pula và Sinj ở Croatia, từ Thành phố Guatemala và San Salvador, cũng như các học sinh từ Viện Rodríguez Moñino ở Badajoz và những người đến từ Cuenca, Tây Ban Nha. Tôi cũng gửi lời chào đến các tín hữu của Đức Mẹ Phép Lạ Corbetta, gần Milan.

Tôi chân thành cảm ơn những lời cầu nguyện của anh chị em và chúc mọi người một Chủ nhật vui vẻ!
 
Đức Giáo Hoàng nhắn nhủ trong giờ Kinh Truyền Tin rằng: Các Mối Phúc có thể trở thành thước đo hạnh phúc
Thanh Quảng sdb
15:52 01/02/2026
Đức Giáo Hoàng nhắn nhủ trong giờ Kinh Truyền Tin rằng: Các Mối Phúc có thể trở thành thước đo hạnh phúc

Trong bài diễn văn trong giờ Kinh Truyền Tin Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng XIV khẳng định rằng sống theo các Mối Phúc có thể mang lại cho chúng ta hạnh phúc, soi sáng bóng tối của thế giới và đổi mới tâm hồn chúng ta.

(Tn Vatican - Deborah Castellano Lubov)

Thiên Chúa ban hy vọng cho những người bị thế giới coi là tuyệt vọng, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói hôm Chủ nhật trong bài diễn văn Kinh Truyền Tin vào trưa tại Vatican.

Nhắc lại bài đọc Tin Mừng hôm nay theo Thánh Matthêu về các Mối Phúc, Đức Giáo Hoàng nói rằng Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng cho toàn thể nhân loại.

“Đây thực sự là những ngọn đèn mà Chúa thắp lên trong bóng tối của lịch sử, tiết lộ kế hoạch cứu độ mà Chúa Cha thực hiện qua Chúa Con, với quyền năng của Chúa Thánh Thần.”

Đổi mới cuộc sống của chúng ta

Đức Giáo Hoàng lưu ý: Trên núi, Chúa Kitô ban cho các môn đệ một luật mới được viết trong lòng, không còn trên đá nữa, “luật đó đổi mới cuộc sống của chúng ta và làm cho chúng trở nên tốt lành, ngay cả khi thế giới dường như đã bỏ rơi chúng ta và đẩy chúng ta vào đau khổ.”

Đức Giáo Hoàng nói rằng chỉ có Thiên Chúa “mới thực sự gọi những người nghèo khổ và đau buồn là phúc lành, bởi vì Ngài là điều thiện hảo, Đấng ban chính mình cho tất cả chúng ta với tình yêu vô bờ bến”, chỉ có Ngài “mới có thể thỏa mãn những người tìm kiếm hòa bình và công lý, bởi vì Ngài là thẩm phán công minh của thế giới, là tác giả của hòa bình vĩnh cửu”.

Đức Giáo Hoàng tiếp tục nói rằng “Chỉ nơi Thiên Chúa, những người hiền lành, nhân từ và có tâm hồn trong sạch mới tìm thấy niềm vui, bởi vì Ngài là sự viên mãn của những hy vọng của họ”, và trong sự bách hại, họ tìm thấy sự cứu chuộc, và trong sự dối trá, họ tìm thấy “cái neo của chân lý”.

“Hãy vui mừng và hân hoan”

“Vì vậy”, Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại, “Chúa Giêsu công bố, ‘Hãy vui mừng và hân hoan!’”

Đức Thánh Cha cũng thừa nhận rằng các Mối Phúc có vẻ nghịch lý đối với những người mong đợi quyền lực để thống trị trái đất.

“Những người quen nghĩ rằng hạnh phúc thuộc về người giàu có tin rằng Chúa Giêsu đã sai lầm. Tuy nhiên, cái lầm nằm ở chính chỗ thiếu niềm tin vào Chúa Kitô”, ngài nói.

Tuy nhiên, ĐTC làm chúng ta kinh ngạc rằng Chúa Kitô là “người nghèo chia sẻ cuộc sống của mình với mọi người, người hiền lành kiên trì chịu đựng đau khổ, người kiến tạo hòa bình và bị bách hại đến chết trên thập giá.”

“Bằng cách này, Chúa Giêsu soi sáng ý nghĩa cho lịch sử. Lịch sử không còn được viết bởi những kẻ chinh phục, mà bởi Thiên Chúa, Đấng có thể hoàn thành nó bằng cách cứu rỗi những người bị áp bức,” “Thiên Chúa ban hy vọng đặc biệt cho những người mà thế giới coi là tuyệt vọng.”

Thước đo hạnh phúc

Hơn nữa, ĐTC lưu ý, “Các Mối Phúc trở thành thước đo hạnh phúc cho chúng ta.” Chúng “khiến chúng ta tự hỏi liệu chúng ta coi đó là một thành tựu cần phải mua hay một món quà cần phải chia sẻ; liệu chúng ta đặt nó vào những vật chất dễ hư hỏng hay vào những mối quan hệ vĩnh hằng của chúng ta.”

Nhờ Chúa Kitô, ĐTC tiếp tục, “nỗi cay đắng của thử thách được biến đổi thành niềm vui của người được cứu chuộc. Chúa Giêsu không nói về sự an ủi xa vời, mà là về ân sủng thực tế luôn nâng đỡ chúng ta, đặc biệt trong những lúc gian nan.”

“Các Mối Phúc,” ngài nhận xét, “nâng cao người khiêm nhường và xua tan kẻ kiêu ngạo trong tận đáy lòng.”

Cuối cùng, Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận bằng cách kêu cầu Đức Trinh Nữ Maria, Người tôi tớ Chúa, người mà mọi thế hệ đều gọi là thánh thiện, cầu giúp chúng ta sống theo các Mối Phúc.
 
Văn Hóa
Tin mừng Gia Đình trong nền văn hóa bão hòa về tình dục, chương bốn
Vũ Văn An
19:37 01/02/2026

Chương 4: Một Cuộc Đời Được Ban Cho Đúng Thời Điểm: Tái Thiết Chủ Thể Đạo Đức



4.1 Khả Năng Đưa ra và Duy trì Lời Hứa Hẹn

Đức Hồng Y Kasper đã giải thích một cách tuyệt vời rằng giáo huấn về mối dây liên kết bất khả phân ly của hôn nhân “là một tin mừng, tức là một niềm an ủi chắc chắn và một lời cam kết vẫn còn giá trị. Vì vậy, giáo huấn này coi trọng nhân vị và tự do của họ. Phẩm giá của con người là có thể đưa ra những quyết định lâu dài.” (1) Không nơi nào khác mà khả năng đưa ra những quyết định lâu dài này được phát biểu rõ ràng hơn là ở khả năng đưa ra và duy trì lời hứa hẹn. Chính ở đây, tự do của con người được hiện thực hóa rõ ràng nhất. Để thấy được sự vĩ đại của khả năng này và mối liên hệ của nó với tự do, người ta không cần phải là một tín hữu. Trong tác phẩm Phả Hệ Đạo Đức [The Genealogy of Morals], Friedrich Nietzsche, người không hề bị nghi ngờ là một nhà biện hộ Kitô giáo, đã ca ngợi những người có khả năng hứa hẹn. Đối với Nietzsche, ở đây chúng ta có trường hợp của cá nhân có chủ quyền, người có "ý chí độc lập, bền bỉ của riêng mình, người đàn ông có quyền đưa ra những lời hứa hẹn. Và ở anh ta, chúng ta tìm thấy một ý thức tự hào, căng thẳng trong từng thớ thịt, về những gì cuối cùng đã đạt được ở đây, về những gì đã trở thành hiện thân trong anh ta - một ý thức đặc biệt về sức mạnh và tự do." (2) "Người được giải phóng, người thực sự có quyền đưa ra những lời hứa hẹn, người làm chủ ý chí này", là "chủ nhân của một ý chí bền bỉ, không thể bị hủy hoại". (3) Điều khiến anh ta khác biệt trước những người khác là anh ta "nói lời của mình như một điều gì đó có thể tin cậy được, bởi vì anh ta biết mình đủ mạnh mẽ để giữ vững lời nói đó ngay cả khi gặp tai nạn, thậm chí 'chống lại số phận'" (4) Chắc chắn là trong những câu nói này, chúng ta không tìm thấy một chút khiêm nhường của tạo vật, một chút yếu đuối của con người, hoặc một ý niệm nhỏ nhất về nhu cầu của con người chúng ta đối với ân sủng chữa lành. Chúng không được viết với thái độ Kitô hữu, mà vì nó, công trạng của chúng ta chính là hồng phúc của Thiên Chúa. Tuy nhiên, mặc dù quá tự tin vào sức mạnh của con người, ở đây Nietzsche gọi sự xuất sắc là sự xuất sắc và như vậy nói lên một chân lý sâu sắc có liên quan mật thiết đến thời đại chúng ta ngày nay.

Ngày nay, người ta thường nghĩ rằng cam kết lâu dài bằng một lời hứa hẹn không thể hủy bỏ đồng nghĩa với việc giới hạn hoặc đánh mất tự do. Theo lời của Đức Benedict XVI, họ đặt câu hỏi: "Liệu người ta có thể ràng buộc bản thân suốt đời không? Điều này có phù hợp với bản chất của con người không? Nó có mâu thuẫn với tự do và phạm vi tự nhận thức của con người không?... Cam kết suốt đời có phải là đối nghịch với tự do không?" (5) Câu trả lời của Nietzsche chắc chắn sẽ là ngược lại: thông qua lời hứa, chúng ta hiện thực hóa tự do của mình, nắm giữ tương lai của mình. Bằng cách ràng buộc ý chí của mình, chúng ta trở thành chủ nhân của nó, giải phóng bản thân khỏi những cơn gió của đam mê, những biến động của may rủi, và thậm chí cả những bước tiến của số phận. Người thực sự tự do mới có thể hứa hẹn, và chỉ người có thể hứa hẹn mới thực sự tự do. Do đó, Đức Benedict và Nietzsche có lẽ sẽ đồng ý rằng “việc con người từ chối bất cứ cam kết nào” là “kết quả của một sự hiểu lầm về tự do và sự tự hiện thực hóa bản thân cũng như mong muốn thoát khỏi đau khổ”. (6)

Câu hỏi còn lại không phải là liệu việc hứa hẹn có trái ngược với tự do hay không – mà là liệu việc hứa hẹn có nằm trong tầm tay chúng ta hay không. Chẳng phải Nietzsche đã quá tự tin vào sức mạnh của con người đó sao? Nếu chỉ xét riêng về sức mạnh của con người, câu trả lời có lẽ phải là ông đã làm vậy. Tuy nhiên, tin vui của Tin Mừng chính là thế này: Thiên Chúa ban cho dân Người một trái tim mới, một trái tim cho phép họ trung thành với giao ước mà Thiên Chúa ban cho họ và họ đáp lại bằng cách đưa ra các lời hứa hẹn – lời khấn rửa tội cho tất cả các Kitô hữu, và sau đó là lời khấn hôn nhân hoặc lời khấn dòng tùy theo ơn gọi đích thân của mỗi người.

4.2. Vấn đề Hôn nhân Không hợp lệ

Với tất cả những điều này, giờ đây chúng ta hãy chuyển sang thảo luận về cách tiếp cận đầu tiên trong hai cách tiếp cận mà Đức Hồng Y Kasper đề xuất để giải quyết vấn đề ly dị và tái hôn dân sự. Ngài viết, “Familiaris Consortio nói rằng một số người ly dị và tái hôn chủ quan tin chắc trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước đây đã tan vỡ không thể cứu vãn của họ chưa bao giờ thành sự (FC 4). Thực thế, nhiều mục tử tin rằng nhiều cuộc hôn nhân, được ký kết theo hình thức giáo hội, không được kết ước thành sự.” (7) Theo ngài, chúng ta không còn có thể đưa ra giả định chung rằng một cuộc hôn nhân nhất định là thành sự, một giả định mà theo ngài đã trở thành một hư cấu pháp lý. Với tỷ lệ hôn nhân không thành sự được cho là cao, Đức Hồng Y đặt câu hỏi “liệu con đường pháp lý, trên thực tế không phải là jure divino [theo thiên luật], nhưng đã phát triển trong quá trình lịch sử, có thể là con đường duy nhất để giải quyết vấn đề hay liệu có thể hình dung ra các thủ tục khác, mang tính mục vụ và tâm linh hơn hay không” (8). Thực thế, “người ta có thể hình dung rằng giám mục có thể giao phó nhiệm vụ này cho một linh mục có kinh nghiệm tâm linh và mục vụ như một đại diện sám hối hoặc đại diện giám mục.” (9)
Ở đây, Đức Hồng Y Kasper đưa ra một đề xuất cụ thể về việc sửa đổi một thủ tục mà Giáo hội có thẩm quyền thay đổi. Thủ tục pháp lý hiện tại, có thể dẫn đến việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu, không phải là một phần của mặc khải thần linh, và do đó, người ta chắc chắn có thể thảo luận về các cách cải thiện nó. Tuy nhiên, có thể có những lý do thực tế chính đáng để không đồng ý với đề xuất của Đức Hồng Y, chẳng hạn như những lý do mà chính ngài đã viện dẫn chỉ vài dòng dưới đây, khi ngài nhấn mạnh rằng “sẽ là sai lầm nếu tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách mở rộng quá mức thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Điều này sẽ tạo ra ấn tượng tai hại cho rằng Giáo hội tiến hành một cách không trung thực bằng cách chấp nhận những gì, trên thực tế, là ly hôn.” (10) Không rõ hai đoạn văn này tương thích với nhau như thế nào. Khó có thể phủ nhận rằng một thủ tục trong đó không còn là một tòa án giáo hội mà là một linh mục cá nhân phán quyết về sự vô hiệu của một cuộc hôn nhân chính là nói lên “sự mở rộng rộng rãi của quá trình hủy hôn”, mà chính Đức Hồng Y Kasper thừa nhận là không mong muốn vì ấn tượng tai hại mà nó có thể tạo ra.

Như hiện tại, một điều đã đủ khó khăn rồi khi phải giải thích cho người ta rằng thủ tục tuyên bố vô hiệu không phải là một cuộc ly hôn Công Giáo. Từ Thánh Gioan Tẩy Giả đến các Thánh Tử Đạo Anh và vượt xa hơn nữa, Giáo hội từng chứng kiến nhiều nhân chứng đã đổ máu để bảo vệ tính thánh thiêng của dây hôn phối. Một vị đại diện đền tội (penitentiary vicar) đơn thuần sẽ làm gì trước yêu cầu của Henry VIII? Trong thế kỷ XVI, Giáo hội về cơ bản đã mất cả một quốc gia vì sự kiên quyết của mình đối với tính bất khả phân ly của hôn nhân. Ngày nay, chúng ta có nên ít nhất gợi ý rằng điều này là thiếu khôn ngan, hay há không có một luận lý học nào cao hơn cấm đoán ngay cả vẻ bề ngoài của sự thỏa hiệp khi nói đến kho tàng đức tin được chính Thiên Chúa trao phó cho Giáo hội hay sao? Vì vậy, Đức Hồng Y Kasper đã tự mình chỉ ra những lý do phản đối đề xuất của mình. Tuy nhiên, vẫn cần phải nói thêm một điều gì đó cơ bản hơn về gợi ý của ngài.

Chúng ta phải tự hỏi làm sao lời khẳng định cho rằng “nhiều mục tử thực sự tin chắc rằng nhiều cuộc hôn nhân, được ký kết theo hình thức Giáo hội, không được ký kết thành sự” (11) lại có thể được viện dẫn là giải pháp cho bất cứ điều gì. Nếu niềm tin của nhiều mục tử hóa ra đúng, thì không thể coi đó là con đường dẫn đến giải pháp một phần cho các vấn đề liên quan đến người ly hôn và tái hôn dân sự. Bản thân nó là vấn đề lớn. Cần phải nhìn mọi sự theo đúng viễn ảnh của chúng. Như Đức Hồng Y Kasper đã chỉ ra một cách đúng đắn, chỉ có “một bộ phận nhỏ những người ly hôn và tái hôn” mới “thực sự quan tâm đến các bí tích”. (12) Vấn đề cho phép những người ly hôn và tái hôn dân sự được rước lễ là một vấn đề chỉ liên quan đến một số ít tín hữu. Đây là một vấn đề nảy sinh trong bối cảnh văn hóa phương Tây và được tri nhận là có tính cấp bách nào đó chỉ ở đó mà thôi, trong khi các Giáo hội địa phương ở Châu Á và Châu Phi có thể có những mối quan tâm hoàn toàn khác. Hơn nữa, như chúng ta đã thấy, Thánh Gioan Phaolô II và Đức Bênêđictô XVI đã đưa ra những giải pháp khả thi, tương ứng trong Tông huấn Familiaris consortio (số 84) và Sacramentum caritatis (số 29). Vì vậy, một giải pháp mục vụ mới sẽ chỉ liên quan đến những người đã ly dị và tái hôn dân sự, những người mong muốn lãnh nhận các bí tích và là những người không có khuynh hướng tuân theo các chỉ dẫn mà Giáo hội đã đưa ra cho đến nay. Việc đề cập đến sự kiện được cho là một số lượng lớn các cuộc hôn nhân bí tích được ký kết ngày nay là không hợp lệ như một giải pháp cho vấn đề cho phép một số ít người đã ly dị và tái hôn được lãnh nhận các bí tích là đưa ra một tình thế khó khăn lớn như một giải pháp cho một khó khăn nhỏ.

Nói cách khác, “giải pháp” ám chỉ một cuộc khủng hoảng có bản chất nền tảng hơn nhiều so với vấn đề mà nó được cần để giải quyết. Bắt tay vào một dự án cuộc đời và gặp phải những bất đồng, thậm chí là thất bại, điều này sau đó có thể dẫn đến ly thân và thậm chí là ly hôn dân sự là một chuyện. Nhưng là một chuyện khác hẳn khi cảm thấy mình bị tước đoạt chính khả năng bắt tay vào một dự án trong đó người ta có thể thành công hoặc thất bại, và điều đó không hàm ý gì hơn khi chúng ta nói về những nỗ lực không hợp lệ trong việc ký kết hôn nhân. Do đó, câu hỏi quan trọng hơn đối với việc chăm sóc mục vụ gia đình ngày nay là làm thế nào để bảo đảm rằng các cuộc hôn nhân được ký kết hợp lệ chứ không phải làm thế nào để tìm ra những cách bổ sung để cho phép Rước lễ những người đã ly hôn và tái hôn không muốn đi theo những con đường đã được Giáo hội vạch ra.

4.3 Con người trong thời hiện đại: Trở thành người cắm trại qua ly hôn

Để chỉ ra hướng đi trong đó có thể tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi quan trọng về việc làm cách nào bảo đảm để các cuộc hôn nhân được ký kết hợp lệ, chúng ta cần xem xét cuộc khủng hoảng đạo đức ngày nay. Tại sao người ta thấy khó khăn khi hứa hẹn, tức là đưa ra những cam kết ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của họ? Nhà xã hội học người Ba Lan Zygmunt Bauman đã tìm thấy một hình ảnh rất gợi ý để mô tả con người thời hiện đại, đó là hình ảnh một người cắm trại tại một khu cắm trại caravan. “Các tài xế mang theo nhà riêng của họ, gắn liền với xe, được trang bị đầy đủ tiện nghi cần thiết cho chuyến đi, dù sao thì họ cũng dự định sẽ ở lại đó trong thời gian ngắn.” (13) Những người cắm trại có tính tự chủ, ý thức được quyền lợi của mình, nhưng đồng thời cũng không quá quan tâm đến việc làm việc vì lợi ích của nơi họ đến vãng cảnh:

Vì họ trả tiền, nên họ cũng đòi hỏi. Họ có xu hướng khá cứng rắn khi tranh luận về quyền được hưởng các dịch vụ đã hứa nhưng ngoài ra họ muốn đi theo con đường riêng của mình. Nếu họ cảm thấy bị thiệt thòi hoặc thấy lời hứa của ban quản lý không được thực hiện, những người cắm trại có thể phàn nàn và yêu cầu bồi thường, nhưng họ sẽ không nghĩ đến việc đặt câu hỏi và đàm phán lại triết lý quản lý của khu cắm trại, chứ đừng nói đến việc tiếp quản trách nhiệm điều hành nơi này.(14)

Nếu khách cắm trại không thích một khu cắm trại, họ sẽ chuyển đi nơi khác. Họ không có tham vọng đầu tư thời gian và công sức để cải thiện nơi này. Tương tự như vậy, những người hiện đại thường nghĩ rằng họ đã có tất cả những gì họ cần. Nếu họ không hài lòng với thành phố, nơi làm việc hoặc các mối quan hệ thân mật của mình, họ ít có xu hướng cố gắng cải thiện mọi thứ. Thay vào đó, phản ứng bản năng của họ sẽ là chuyển đi nơi khác. Đối với Bauman, một trong những gốc rễ của tâm lý này là điều kiện làm việc đã thay đổi. Trong khi ở thời đại của nhà máy Ford đầu tiên - thời đại của “hiện đại nặng nề” - đã có “một lời thề hôn nhân kiểu ‘cho đến khi cái chết chia lìa’ giữa tư bản và lao động”,(15) thì tính linh hoạt đã trở thành tín điều mới của “hiện đại lỏng” ngày nay. Đời sống việc làm đã trở nên rời rạc, và việc sẵn sàng bỏ lại tất cả phía sau để bắt đầu lại từ đầu giờ đây là điều hoàn toàn cần thiết đối với bất cứ ai mong muốn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp chuyên môn. Việc áp dụng mô hình này vào các mối quan hệ giữa người với người quả là hấp dẫn.

Thêm vào đó, các phương tiện sản xuất hiện đại của chúng ta đã trở nên quá mạnh mẽ đến nỗi giới hạn duy nhất của sản xuất dường như là giới hạn của tiêu dùng. Đây chính là điều Hannah Arendt gợi ý khi bà nói: “Trong điều kiện hiện đại, không phải sự phá hủy mà chính sự bảo tồn mới là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại bởi vì chính độ bền của các vật thể được bảo tồn là trở ngại lớn nhất đối với quá trình doanh thu (turnover), mà sự gia tăng tốc độ liên tục của nó là sự bất biến duy nhất còn lại ở bất cứ nơi nào nó đã bám rễ.” (16) Chính sự tiêu dùng đã duy trì nền kinh tế, do đó trở thành đức tính tốt nhất của một công dân có lương tâm, trong khi tằn tiện và tiết kiệm là những thói xấu công cộng, ít nhất là ở thời điểm chúng ta hiểu được cách thức vận hành của nền kinh tế hiện đại. Não trạng này dễ dàng len lỏi vào các mối quan hệ giữa người với người. Như Bauman đã chỉ ra, “Các mối ràng buộc và hùn hạp thường bị xem và đối xử như những thứ để tiêu thụ, chứ không phải để sản xuất.... Nếu đối tác trong quan hệ hùn hạp được ‘khái niệm hóa’ theo những thuật ngữ như vậy, thì nhiệm vụ của cả hai bên không còn là ‘làm cho mối quan hệ hoạt động’ nữa—.... Thay vào đó, đây là việc đạt được sự hài lòng từ một sản phẩm sẵn sàng để tiêu thụ.”(17)

Nguyên việc hiện hữu của định chế pháp lý về ly hôn đã góp phần rất lớn vào việc cổ vũ thái độ này. Luật pháp có tác dụng giáo dục. Chỉ riêng việc luật ly hôn tồn tại trong xã hội thế tục đã chứng minh rằng chính quyền Nhà nước – mà đối với nhiều người vẫn là một chính quyền cho đến ngày nay – không cho rằng hôn nhân phải kéo dài “cho đến khi cái chết chia lìa chúng ta”, mà đó là một sự sắp đặt mang tính tạm thời. Cách đây vài năm, một chính trị gia địa phương ở Đức, Gabriele Pauli, đã gây xôn xao dư luận khi đề nghị giới hạn thời gian cam kết kết hôn trong bảy năm, sau đó có thể gia hạn nếu hai bên mong muốn.(18)

Những gì bà Pauli đạt được với đề xuất của mình cho thấy rằng người ta vẫn còn phần nào coi hôn nhân là một định chế tự nhiên mà con người bước vào, chứ không phải tạo ra, một định chế tình yêu vợ chồng vốn dĩ kéo dài cho đến khi một trong hai người qua đời. Tuy nhiên, không có điều gì trong các bản văn pháp lý của Nhà nước biện minh cho bất cứ sự phẫn nộ nào của công chúng. Hầu như không có sự khác biệt về phẩm chất giữa khả năng pháp lý được ly hôn "ít" hoặc không có lỗi và đề xuất giới hạn thời hạn ràng buộc pháp lý của hôn nhân là bảy năm.

Định chế pháp lý về ly hôn giả định rằng quan hệ hùn hạp là tạm thời, mà, theo Bauman, "có xu hướng trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm.... Nếu người ta cho rằng cam kết của họ chỉ là tạm thời và cho đến khi có thông báo mới, thì những cam kết này có xu hướng trở thành như vậy do hậu quả của chính hành động của họ."(19) Chỉ riêng sự kiện người ta dễ dàng ly hôn đã góp phần rất lớn vào việc họ rơi vào tình huống mà họ nghĩ rằng họ cần phải ly hôn, vì điều đó thay đổi cách họ bước vào các mối quan hệ của mình và cách họ làm việc hoặc không làm việc trong chính những mối quan hệ này. Nếu mọi người chấp nhận một cam kết lâu dài, họ sẽ biết suy xét hơn trước khi bước vào, và họ cũng sẽ đầu tư nhiều công sức hơn làm cho nó thành công sau khi đã bước vào. Ngược lại, mọi hợp đồng hôn nhân với quyền được ly hôn đều ngầm coi việc kết hợp của hai bên với cùng một thái độ đã biến thành minh nhiên trong thực hành các thỏa thuận tiền hôn nhân phổ biến ở một số quốc gia. Ở đây, các cặp vợ chồng tương lai đã đồng ý về các điều kiện ly hôn trong tương lai trong trường hợp một hoặc cả hai người muốn thoát khỏi mối quan hệ. Làm thế nào ai đó lại có thể mong đợi một mối quan hệ như vậy kéo dài? Làm thế nào nó có thể không kết thúc sớm nếu kết thúc này đã được suy nghĩ và sắp đặt trước ngay từ đầu? Há chẳng tốt hơn hay sao khi bị bạn bè của mình phản bội hơn là không tin tưởng họ? (20) Liệu có bất cứ tình bạn nào, đặc biệt là tình bạn vợ chồng, có thể tồn tại nếu ngay từ đầu đã bị nghi ngờ?

Nhà xã hội học người Canada Jacques T. Godbout đã phát biểu rằng "ly hôn có lẽ là cuộc cách mạng xã hội quan trọng nhất của thời hiện đại". (21) Lý do là vì ly hôn đã thay đổi đáng kể mối quan hệ vợ chồng từ một loại ràng buộc vô điều kiện sang một loại ràng buộc có điều kiện. Điều phân biệt bạn bè với các thành viên trong gia đình là bạn bè được lựa chọn trong khi các thành viên trong gia đình thì không. Chúng ta không lựa chọn cha mẹ, anh chị em hay con cái. Kết quả là các mối quan hệ gia đình ít tự do hơn tình bạn, nhưng an toàn hơn, vì chúng hoàn toàn vô điều kiện. Bất cứ lúc nào, một người bạn cũng có thể nói với một người bạn rằng anh ta coi tình bạn của họ đã chấm dứt; vào lúc đó, nó thực sự sẽ kết thúc. Một người cha, trong lúc đau khổ và thất vọng tột độ, có thể nói với con trai mình: "Con không còn là con trai của ta nữa", nhưng con trai ông vẫn sẽ là con trai của ông. Do đó, “tình bạn không thể thay thế gia đình.” (22) Tất nhiên, có một mối quan hệ gia đình được lựa chọn một cách khôn ngoan, và đây là hạt nhân sáng lập của nó: cặp đôi. (23) Ý tưởng về hôn nhân theo nghĩa đầy đủ của nó là bằng giao ước hôn nhân, hai người bước vào một mối quan hệ vô điều kiện vốn tương tự như mọi mối quan hệ gia đình khác, biến hai người xa lạ thành họ hàng.(24) Mối quan hệ này được tự do lựa chọn lúc ban đầu như tình bạn, nhưng sau đó, thông qua giao ước, trở thành vô điều kiện như quan hệ họ hàng. Theo dòng suy nghĩ này, việc nói với vợ mình rằng cô ấy không còn là vợ nữa cũng vô lý như việc nói với chị gái mình rằng cô ấy không còn là chị gái mình nữa, và việc có một người chồng cũ cũng vô lý như việc có một người cha cũ.

Một thỏa thuận hôn nhân cho phép ly hôn rõ ràng là một loại rất khác: mối quan hệ được tự do lựa chọn lúc ban đầu và tiếp tục được tự do lựa chọn trong suốt thời gian tồn tại. Chính sự khác biệt này tạo nên một cuộc cách mạng xã hội thực sự, và khiến Godbout tự hỏi liệu “bản chất vô điều kiện của các mối quan hệ gia đình khác (anh chị em, chị em gái...) [có] tồn tại sau khi sự vô điều kiện trong cặp đôi kết thúc hay không”. (25) Tính hiện đại có nguy cơ khiến con người bị cô lập, mất gốc rễ, mất ràng buộc và cuối cùng bị bỏ rơi. Vì vậy, bằng cách bảo vệ tính bất khả phân ly của hôn nhân, Giáo hội đã thực hiện một dịch vụ vô giá cho nhân loại trong thời hiện đại. Sẽ là tai họa nếu các mục tử và thầy dạy của Giáo hội cho ấn tượng dù nhỏ nhoi rằng họ đã chấp nhận sự kiện hầu hết các luật lệ trên thế giới đều có quy định về ly hôn. Đó là sự kiện Giáo hội không bao giờ có thể chấp nhận. (26) Nếu giáo hội yêu thương con người, nếu giáo hội muốn góp phần xây dựng lại chủ thể đạo đức, giáo hội sẽ luôn nêu rõ sự phản đối ly hôn và khẳng định rằng đối với giáo hội, Nhà nước không có thẩm quyền nhiều hơn để định nghĩa Hôn nhân như nó có thẩm quyền định nghĩa luật trọng lực, và do đó, bằng cách định nghĩa các điều khoản ly hôn, nó đang vượt quá giới hạn của nó. Thật vậy, cách đây không lâu, quan điểm cho rằng Nhà nước không có thẩm quyền định nghĩa hôn nhân là gì không chỉ giới hạn ở Giáo hội mà còn được các nhà tư tưởng được biết đến như những người không sùng đạo nhiệt thành ủng hộ. Vì vậy, trong một bài xã luận trên tờ Rheinische Zei-tung, mà ông đã chỉ đạo vào thời điểm đó, Karl Marx trẻ tuổi đã bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề dự luật ly hôn như sau: “Nhà lập pháp... không làm ra luật, ông không phát minh ra chúng, ông chỉ xây dựng chúng, thể hiện bằng những luật lệ có ý thức và tích cực những quy luật nội tại của các mối quan hệ tâm linh.... Một người kết hôn không tạo ra hôn nhân, không phá hủy nó, cũng như một vận động viên bơi lội không tạo ra hoặc phát minh ra bản chất và quy luật của nước và trọng lực.” (27)

Chúng ta đã bắt đầu chương này bằng câu hỏi làm cách nào việc chăm sóc mục vụ của Giáo hội có thể giúp mọi người đầu tư vào một lời hứa, để thực hiện những cam kết lâu dài, cho phép họ kết hôn hợp lệ. Câu trả lời đầu tiên sẽ là mở ra cho các tín hữu một góc nhìn mới, nhấn mạnh rằng Giáo hội thực sự tin vào những gì mình nói. Đối với một số tín hữu, lần đầu tiên họ nghe về hôn nhân bất khả phân ly có thể là trong lần gặp gỡ cuối cùng với linh mục trong buổi chuẩn bị hôn nhân. Cặp đôi sắp cưới có thể chân thành; họ có thể nghe những lời này, nhưng vì thiếu bối cảnh rộng hơn, họ vẫn còn nhầm lẫn về thể loại văn chương của chúng. “Cho đến khi cái chết chia lìa chúng ta”—chẳng phải đây là một cách diễn đạt đầy chất thơ tuyệt đẹp về cảm xúc của một người lúc đó sao? Khi nói những lời này, người ta còn có thể muốn nói gì khác ngoài, “Vâng, ngay lúc này, tôi thực sự muốn ở bên em đến hết cuộc đời này”? Ý tưởng cho rằng những lời này không chỉ là một biểu thức cảm xúc nhất thời, mà chúng là lời hứa mà người ta cam kết ý chí cho toàn bộ tương lai và mang lại một hình thức dứt khoát cho cuộc đời mình, có thể đơn giản là không dễ dàng tiếp cận đối với những người lớn lên trong thời đại duy cảm xúc của chúng ta. Họ sẽ không thể hiểu được điều đó, trừ khi nó được tuyên bố với sự kiên định và xác tín.

Nếu đúng là có rất nhiều cuộc hôn nhân bất hợp lệ, thì đây không phải là giải pháp cho bất cứ điều gì, và một cuộc hôn nhân hợp lệ, bất khả phân ly không phải là gánh nặng. Giáo hội cần làm mọi thứ trong khả năng của mình để giúp mọi người kết hôn hợp lệ, và một phần của điều này là nói rõ cho họ biết sự thật về tính bất khả phân ly. Các mục tử và thầy dạy của Giáo hội không được để mình bị cám dỗ nghĩ rằng sự thật này là gánh nặng, rằng chừng nào con người còn thiếu hiểu biết, họ không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình và do đó có thể sống một cuộc sống hạnh phúc mà không phải mạo hiểm ơn cứu rỗi đời đời của mình. (28) Tội lỗi gây đau đớn—ngay cả trong đời này, chính lòng thương xót đòi hỏi chúng ta phải nói sự thật với người ta, chắc chắn là vì sự cứu rỗi đời đời của họ, nhưng cũng vì hạnh phúc mà chúng ta có thể có được ở thế giới này. Sự thật không làm cho cuộc sống này trở nên khó khăn hơn mà cho phép chúng ta sống tốt. Cuộc sống không đi kèm với một cuốn sách hướng dẫn, và đặc biệt là trong lĩnh vực tình dục, tất cả con người đều rất dễ bị tổn thương. Ở đây, thật tàn nhẫn khi để mọi người học hỏi qua thử nghiệm và sai lầm. Điều đó có nghĩa là bỏ rơi họ; nó có nghĩa là khiến họ phải chịu những hậu quả tiềm tàng thảm khốc. Một số lỗi lầm tàn khốc đến mức chỉ cần phạm phải một lần là đủ để hủy hoại cả cuộc đời. Tất nhiên, tội lỗi luôn có thể được tha thứ, nhưng một số thiệt hại có thể là không thể khắc phục được về mặt con người. Chỉ cần một sai lầm, những gì đáng lẽ có thể trở thành một cuộc sống tươi đẹp có thể bị hủy hoại hoàn toàn, ít nhất là ở khía cạnh trần thế của nó. Đây là lý do tại sao các nhà giáo dục không được sợ hãi khi phải chịu trách nhiệm, và đặc biệt là Giáo hội cần phải sống xứng đáng với ơn gọi mà mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, nghĩa là loan báo cho họ tin mừng, một tin mừng chạm đến cuộc sống của họ và kêu gọi họ hoán cải (x. Mc 1: 15). Do đó, việc tìm kiếm những hình thức chuẩn bị hôn nhân mới mẻ và hữu hiệu hơn, đặc biệt là sự chuẩn bị từ xa và gần mà Familiaris consortio đề cập (xem số 66), dường như là một trong những thách thức cấp bách nhất đối với việc chăm sóc mục vụ gia đình trong bối cảnh truyền giảng tin mừng.

Còn tiếp

 
VietCatholic TV
Pokrovsk: Giao tranh chỉ 1 giờ, viện binh Nga không ai sống sót. Chuyện gì xảy ra nếu Mỹ đánh Iran?
VietCatholic Media
03:36 01/02/2026


1. Lực lượng Ukraine đã tiêu diệt bốn trung đội bộ binh Nga chỉ trong một giờ.

Theo lữ đoàn Spatan, Ukraine đã tiêu diệt gần bốn trung đội bộ binh Nga chỉ trong một giờ tại trục Pokrovsk. Các binh sĩ cho biết lực lượng xâm lược Nga đã triển khai 90 binh sĩ tấn công tham gia chiến dịch này.

Mạc Tư Khoa coi việc có thể chiếm được Pokrovsk là một cách để tạo dựng hình ảnh “chiến thắng không thể tránh khỏi” trước Tổng thống Donald Trump trong các cuộc đàm phán hòa bình. Điện Cẩm Linh đang cố gắng buộc Ukraine nhượng lại Donbas, bao gồm cả các tuyến phòng thủ kiên cố của Ukraine được xây dựng từ năm 2014.

Lữ đoàn Spartan được thành lập tại Kharkiv vào đầu cuộc chiến tranh Nga-Ukraine năm 2014. Ngày nay, kinh nghiệm chiến đấu của lữ đoàn, kết hợp với công nghệ hiện đại, máy bay điều khiển từ xa và viện trợ quân sự của phương Tây, cho phép các đơn vị Ukraine chặn đứng các đạo quân Nga đông hơn đáng kể.

Sương mù mùa đông không che giấu được quân xâm lược Nga.

“Lợi dụng màn sương mù, quân Nga đã cố gắng tiến công bằng xe hơi, xe máy và xe địa hình”, lữ đoàn này báo cáo.

Spatan đã chặn đứng cuộc tấn công bằng lực lượng điều khiển từ xa tinh nhuệ thuộc Trung đoàn Chim Madiar. Đây được coi là một trong những đơn vị điều khiển từ xa hiệu quả nhất của Ukraine, do Tư lệnh Robert Brovdi chỉ huy, với khả năng phá hủy hàng ngàn mục tiêu của Nga mỗi tháng.

[Europe Maidan: Ukrainian forces destroyed four platoons of Russian infantry in single hour]

2. Estonia cảnh báo cựu chiến binh Nga có thể tràn vào Âu Châu sau chiến tranh Ukraine, đồng thời kêu gọi Liên Hiệp Âu Châu cấm nhập cảnh.

Ngoại trưởng Estonia Margus Tsahkna cho biết Estonia đang thúc đẩy lệnh cấm nhập cảnh trên toàn Liên Hiệp Âu Châu đối với các cựu binh Nga từng tham gia chiến tranh chống Ukraine.

“Không thể có con đường nào từ Bucha đến Brussels,” Tsahkna nói với các phóng viên tại thủ đô Bỉ, đồng thời cho biết thêm ông sẽ nêu đề xuất này tại cuộc họp của các Ngoại trưởng Liên Hiệp Âu Châu vào cuối ngày hôm đó.

Estonia, một thành viên NATO có chung biên giới với Nga, đã cấm nhập cảnh vào khu vực Schengen đối với 261 chiến binh Nga vào đầu tháng Giêng. Tallinn hiện đang kêu gọi một đường lối phối hợp trên toàn khối.

“Nga có gần 1 triệu chiến binh. Họ chủ yếu là tội phạm; họ là những người rất nguy hiểm”, Tsahkna nói.

“Chúng tôi có thông tin rằng hầu hết trong số họ sẽ đến Âu Châu sau chiến tranh. Và Âu Châu chưa sẵn sàng cho điều đó.”

Một nhà ngoại giao cao cấp giấu tên của Estonia nói với Politico rằng các phương pháp hiện tại để xác định và cấm các cá nhân quá chậm và phụ thuộc vào từng quốc gia, đó là lý do tại sao Estonia ủng hộ một đường lối mạnh mẽ hơn.

Một quan chức Âu Châu khác nói với hãng tin rằng trong khi Estonia có quyền áp đặt lệnh cấm nhập cảnh toàn diện, điều này sẽ khó thực hiện đối với nhiều quốc gia Liên Hiệp Âu Châu khác, vì họ sẽ phải lập danh sách từng chiến binh và các bằng chứng cần thiết một cách riêng lẻ.

Khi được các phóng viên hỏi về đề xuất này, nhà lãnh đạo chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, cho biết rằng “nhiều quốc gia thành viên” đã bày tỏ sự ủng hộ đối với lệnh cấm nhập cảnh.

“Điều này đặt ra rủi ro an ninh rõ ràng đối với Âu Châu,” Kallas nói. “Đây là một trong những bước mà chúng ta cần chuẩn bị.”

Kallas nói thêm rằng khối này sẽ tiếp tục tham khảo ý kiến với các thành viên Liên Hiệp Âu Châu để bảo đảm có kế hoạch cho giai đoạn sau khi đạt được thỏa thuận ngừng bắn.

Tại Nga, việc binh lính trở về từ chiến trường Ukraine được tường trình có liên quan đến sự gia tăng tội phạm. Theo báo cáo, hơn 1.000 người đã thiệt mạng hoặc bị thương do các chiến binh trở về trong bốn năm qua, cùng với sự gia tăng các vụ cướp và buôn bán ma túy.

Nga đã tuyển mộ rộng rãi các tù nhân cho cuộc chiến ở Ukraine, hứa hẹn ân xá để đổi lấy việc phục vụ ở mặt trận.

[Kyiv Independent: Estonia warns Russian veterans could flood Europe after Ukraine war, urges EU entry ban]

3. Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ tấn công Iran?

Việc Mỹ triển khai các vị trí tấn công tại những điểm trọng yếu xung quanh Iran đã làm dấy lên lo ngại khắp Trung Đông về nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột quân sự khác.

Tổng thống Trump đã cảnh báo Tehran rằng “thời gian đang cạn dần” và họ sẽ phải đối mặt với một cuộc tấn công “tồi tệ hơn nhiều” so với các cuộc tấn công của Mỹ vào các căn cứ hạt nhân của Iran hồi mùa hè năm ngoái.

Đáp lại, Iran tuyên bố lực lượng của họ “đang sẵn sàng nổ súng”, đồng thời cảnh báo Tổng thống Trump rằng ông có thể đang khơi mào một cuộc chiến với những hậu quả mà ông không thể kiểm soát được.

“Chính quyền Cộng hòa Hồi giáo hiện đang hoạt động dựa trên giả định rằng chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào”, Hamidreza Azizi, một chuyên gia về Iran tại viện nghiên cứu SWP Berlin, nói với Newsweek.

Mỹ có thể làm gì?

Hôm thứ Hai, Hàng Không Mẫu Hạm USS Abraham Lincoln tiến vào Ấn Độ Dương trước cuộc tập trận dự kiến. Vị trí này đồng nghĩa với việc lực lượng Mỹ sẽ tăng đáng kể tầm tấn công vào Iran, đồng thời có thể bảo vệ các đồng minh trong khu vực khỏi bất kỳ hành động trả đũa nào.

Theo các nhóm nhân quyền, Tổng thống Trump đang cân nhắc tấn công vào các chỉ huy và thể chế mà ông cho là chịu trách nhiệm về cuộc đàn áp bạo lực gần đây của chế độ Iran đối với người biểu tình, khiến ít nhất 6.000 người thiệt mạng.

Các nhà phân tích tin rằng Mỹ có thể tiến hành các cuộc tấn công chính xác nhắm vào các mục tiêu quân sự thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC hoặc các tòa nhà chính phủ.

Iran có thể phản ứng như thế nào?

Mặc dù quân đội Mỹ vượt trội hơn hẳn Iran, nhưng Cộng hòa Hồi giáo vẫn có thể đáp trả bất kỳ cuộc tấn công nào bằng kho vũ khí hỏa tiễn đạn đạo và máy bay điều khiển từ xa của mình, tấn công vào các cơ sở của Mỹ ở vùng Vịnh, đặc biệt là ở Bahrain và Qatar.

Các quốc gia vùng Vịnh nơi đặt căn cứ của Mỹ lo ngại họ sẽ là mục tiêu đầu tiên của các cuộc trả đũa—hỏa tiễn của Iran hoặc các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của lực lượng Houthi do Tehran hậu thuẫn ở Yemen.

Khi Mỹ và Israel tấn công Iran vào tháng 6 năm 2025, Tehran đã đáp trả bằng các cuộc tấn công vào một căn cứ không quân của Mỹ ở Qatar. Mỹ đã di tản quân đội của mình khỏi căn cứ đó trong những tuần gần đây để đề phòng hành động trả đũa có thể xảy ra.

Ả Rập Xê Út, Qatar, Oman và Ai Cập đều kêu gọi Washington tránh hành động quân sự chống lại Iran. Thái tử Ả Rập Xê Út Mohammed bin Salman tuyên bố sẽ không cho phép lực lượng Mỹ sử dụng không phận hoặc lãnh thổ nước mình để tấn công.

Liệu các cuộc tấn công của Mỹ có giúp ích cho người biểu tình Iran?

Một quan điểm cho rằng các cuộc tấn công của Mỹ vào các mục tiêu có thể càng làm cho phong trào biểu tình ở Iran thêm mạnh mẽ, vốn đã kêu gọi thay đổi sau một thời kỳ dài khó khăn về kinh tế.

Trong tuần đầu tiên của năm, Tổng thống Trump đã nói với người dân Iran rằng hãy tiếp tục biểu tình và giành lại quyền kiểm soát các thể chế của họ, đồng thời khẳng định “sự giúp đỡ đang đến”. Chỉ chưa đầy hai tuần sau, ông đã điều Hàng Không Mẫu Hạm và các máy bay chiến đấu của nó vào Vịnh Ba Tư.

Tuy nhiên, các quan chức Ả Rập và phương Tây cho rằng thay vì khiến người dân xuống đường biểu tình, một cuộc tấn công của Mỹ có thể làm suy yếu phong trào biểu tình, vốn đang phải đối mặt với cuộc đàn áp đẫm máu nhất từ chính quyền kể từ cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979.

Các nhóm nhân quyền theo dõi số người chết cho biết khoảng 6.000 người biểu tình đã bị chính phủ giết chết trong các cuộc biểu tình vào tuần đầu tiên của tháng Giêng. Các quan chức Iran đã thừa nhận số người chết là khoảng 3.100 người.

Ali Vaez, giám đốc Dự án Iran tại Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, cho biết bất kỳ cuộc tấn công nào của Mỹ cũng có thể kích động thêm bạo lực từ phía chế độ này.

Ông nói với Newsweek: “Một chế độ đã tàn sát chính người dân của mình dưới sự đe dọa can thiệp quân sự từ nước ngoài rất có thể sẽ trở nên hung hăng hơn nữa nếu mối đe dọa đó trở thành hiện thực”.

Theo Vaez, Tehran có thể kết luận rằng sự kiềm chế của họ cho đến nay chỉ làm gia tăng leo thang xung đột từ phía Mỹ và Israel. Do đó, họ có khả năng coi bất kỳ hành động quân sự nào, bất kể quy mô và phạm vi, đều là lý do để trả đũa không tương xứng.

“Do đó, ngay cả một cuộc tấn công hạn chế của Mỹ cũng có thể dẫn đến một cuộc đối đầu toàn diện hoặc một cuộc xung đột khu vực”, ông nói.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi hôm thứ Sáu cho biết Tehran không có kế hoạch đàm phán với các quan chức Mỹ trong điều kiện hiện tại, trong khi Abdollah Hajji Sadeghi, đại diện của lãnh đạo tối cao Iran tại Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC, nói rằng Mỹ đang nói suông “vì họ biết rằng bất kỳ tính toán sai lầm nào cũng sẽ phải trả giá đắt”.

Hôm thứ Năm, Tổng thống Trump nói, “chúng ta có rất nhiều tàu chiến rất lớn, rất mạnh đang hướng đến Iran ngay bây giờ. Và sẽ thật tuyệt nếu chúng ta không phải sử dụng chúng,” khi ông nói rằng ông đã đưa ra các yêu cầu với Tehran: “Thứ nhất, không có vũ khí hạt nhân và thứ hai, hãy ngừng giết hại người biểu tình.”

Liệu có thể xảy ra sự thay đổi chế độ?

Sau các cuộc tấn công của Israel hồi tháng 6 năm ngoái đã tiêu diệt phần lớn giới lãnh đạo cao cấp của Iran, Lãnh tụ tối cao Ayatollah Ali Khamenei không còn tham gia vào việc điều hành đất nước hàng ngày.

Theo Reuters, sự chú ý đã chuyển sang những nhân vật có liên hệ với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC, bao gồm cả cố vấn cao cấp Ali Larijani.

Tuy nhiên, các nhà ngoại giao khu vực được Reuters dẫn lời lo ngại rằng, khi không có người kế vị rõ ràng cho Khamenei già yếu, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC có thể lấp đầy khoảng trống quyền lực, tăng cường đường lối cai trị cứng rắn của Tehran và làm gia tăng căng thẳng hạt nhân với phương Tây.

“Những gì còn lại rất có thể sẽ nhanh chóng trở nên cứng rắn,” Behnam Ben Taleblu, giám đốc cao cấp của Chương trình Iran tại Tổ chức Bảo vệ Dân chủ, gọi tắt là FDD, nói với Newsweek. “Ngay cả trước cuộc chiến 12 ngày [với Israel hồi tháng 6], đã có những câu hỏi về việc một người đàn ông 86 tuổi thực sự có thể quản lý được cuộc cạnh tranh chiến lược với hai siêu cường truyền thống đến mức nào.”

Nếu Khamenei bị loại bỏ, con trai ông là Mojtaba Khamenei và các giáo sĩ khác sẽ là những người kế nhiệm tiềm năng. Các mục tiêu khác của Mỹ bao gồm các nhân vật quân sự và chính trị như các thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao, gọi tắt là SNSC và Hội đồng Quốc phòng.

Ông Taleblu nói: “Chính quyền Tổng thống Trump đã nói về việc Iran cần một kiểu lãnh đạo khác, nhưng tôi khó hiểu tại sao chính quyền lại không nhận thấy sự cần thiết phải chung tay thúc đẩy tiến trình lịch sử vượt qua chế độ Cộng hòa Hồi giáo”.

Chính quyền Iran đang thúc đẩy ngoại giao.

Việc Tổng thống Trump chơi trò “đứng trên bờ vực chiến tranh” có thể là một chiêu trò nhằm gây áp lực buộc Iran phải đàm phán, và ông đã đề cập đến triển vọng về một thỏa thuận chưa được xác định với Tehran.

Tuy nhiên, vấn đề là các quan chức Iran muốn các cuộc đàm phán chỉ giới hạn ở chương trình hạt nhân, trong khi Mỹ muốn giải quyết vấn đề hỏa tiễn đạn đạo của Tehran và sự hỗ trợ của nước này cho các lực lượng ủy nhiệm thuộc Trục Kháng chiến trong khu vực, theo Azizi từ SWP Berlin.

“Các quan chức Iran rất coi trọng viễn cảnh một cuộc chiến tranh hoặc chiến dịch quân sự sắp xảy ra do Hoa Kỳ phát động, nhưng đồng thời, họ cũng đang cố gắng tìm cách trì hoãn điều đó”, ông nói với Newsweek.

Ông Azizi nói thêm rằng, đây một phần là nỗ lực nhằm câu giờ hoặc đổ lỗi cho Mỹ về việc khơi mào cuộc đối đầu bằng cách tự thể hiện mình là bên sẵn sàng đàm phán.

Matt Gertken, chiến lược gia địa chính trị hàng đầu tại BCA Research, nói với Newsweek rằng Washington sẽ tránh tấn công vào các yếu tố cốt lõi của chế độ và tìm cách thay đổi nó cho đến khi họ hoàn toàn tự tin rằng có thể chủ động vô hiệu hóa khả năng quân sự bất đối xứng của Iran nhằm làm gián đoạn sản xuất và vận chuyển dầu mỏ trong khu vực.

Ông nói: “Chính quyền hiện không thể chắc chắn về việc được miễn nhiễm trước sự trả đũa của Iran, mặc dù không thể loại trừ khả năng mạo hiểm”.

[Newsweek: What Happens if the US Attacks Iran?]

1. NATO bị tấn công bằng đường không từ đồng minh thân cận nhất của Nga.

Ba Lan đã tạm thời hạn chế giao thông hàng không dân dụng trên một phần không phận của mình sau khi phát hiện những đối tượng có thể là khinh khí cầu xâm nhập vào lãnh thổ của nước thành viên NATO này từ nước láng giềng Belarus, theo thông báo của Warsaw.

Các đối tượng lạ đã xâm nhập không phận Ba Lan vào đêm thứ Sáu, hai ngày sau một sự việc tương tự gây ra việc đóng cửa không phận ở phía đông bắc nước này.

Trong tháng vừa qua, Ba Lan đã ghi nhận một số vụ việc khinh khí cầu bay vào không phận nước này từ Belarus, đồng minh thân cận nhất của Nga. Được tường trình chở hàng cấm, việc phóng các khinh khí cầu này được coi là một chiến thuật chiến tranh hỗn hợp, mà Mạc Tư Khoa bị cáo buộc thực hiện, làm dấy lên lo ngại trong các thành viên khối Đông Âu của liên minh.

Trên kênh truyền hình X, quân đội Ba Lan cho biết đêm thứ Sáu rằng các đối tượng lạ đã xâm nhập không phận Ba Lan từ Belarus và có “xác suất cao” đó là khinh khí cầu.

Hệ thống radar quân sự đã giám sát chuyến bay của họ và để bảo đảm an toàn, các hạn chế hàng không dân dụng đã được áp dụng trên tỉnh Podlaskie ở phía đông bắc đất nước, nhưng không có mối đe dọa nào đối với an ninh không phận Ba Lan được ghi nhận.

Tuyên bố không nói rằng bất kỳ máy bay nào đã được triển khai, điều từng xảy ra trong các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga vào Ukraine, đe dọa xâm phạm không phận Ba Lan.

Quân đội Ba Lan cho biết đây là một trong chuỗi các vụ việc hỗn hợp ở khu vực phía đông Ba Lan, và quân đội nước này vẫn luôn sẵn sàng đáp trả.

Đầu tháng Giêng, Ba Lan đã triệu tập đại biện lâm thời Belarus liên quan đến vụ xâm phạm không phận trước đó do các đối tượng được tường trình bóng bay buôn lậu gây ra, truyền thông Ba Lan đưa tin.

Ngày 17 tháng Giêng, quốc gia thành viên NATO này ghi nhận sự gia tăng các vụ buôn lậu bóng bay chứa thuốc lá bất hợp pháp gần biên giới Belarus. Cảnh sát Ba Lan cho biết ngày 26 tháng 12, hàng chục đối tượng bay, rất có thể là bóng bay buôn lậu, đã xâm nhập vào nước này từ Belarus vào đêm Giáng Sinh.

Vào tháng 9, NATO thông báo sẽ tăng cường sự hiện diện trên không dọc theo biên giới phía đông của liên minh sau khi khoảng 20 máy bay điều khiển từ xa của Nga xâm phạm không phận Ba Lan vào ngày 10 tháng 9.

Mạc Tư Khoa phủ nhận việc tấn công vào nước này, nhưng Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk cho biết vụ việc đánh dấu “thời điểm chúng ta tiến gần đến xung đột công khai nhất kể từ Thế chiến II”.

Ba Lan khẳng định an ninh không phận của nước này không bị xâm phạm, nhưng vụ việc mới nhất sẽ làm gia tăng lo ngại về các hoạt động hỗn hợp, bao gồm cả các vụ xâm nhập bằng máy bay điều khiển từ xa, mà các thành viên NATO cho rằng là mưu đồ của Belarus và Nga nhằm thử thách quyết tâm của liên minh.

[Kyiv Independent: NATO Hit By Aerial Incursion From Russia’s Closest Ally]

4. Liên Hiệp Âu Châu đưa các viên chức thi hành pháp luật của Iran vào danh sách đen.

Liên minh Âu Châu đang tiến gần đến việc bổ sung lực lượng bán quân sự đáng sợ của Iran vào danh sách các tổ chức khủng bố để đáp trả cuộc đàn áp tàn bạo các cuộc biểu tình, sau khi Pháp từ bỏ lập trường phản đối động thái này.

Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo có thể bị thêm vào danh sách nếu nhận được sự ủng hộ tại cuộc họp của các Ngoại trưởng khối tại Brussels vào thứ Năm, nơi họ dự kiến sẽ áp đặt các biện pháp trừng phạt khác đối với chế độ Iran. Nếu được thêm vào danh sách, lực lượng này sẽ nằm cùng loại với al Qaeda và Daesh.

Một số quốc gia, bao gồm Pháp và Ý, đã phản đối động thái này, cho rằng nó sẽ đóng cửa các kênh ngoại giao hạn chế với Tehran. Tuy nhiên, Pháp, quốc gia phản đối mạnh mẽ nhất việc xếp hạng khủng bố, đã rút lại sự phản đối của mình vào tối thứ Tư, Điện Élysée cho biết với POLITICO. Trước đó, Ngoại trưởng Jean-Noël Barrot nói rằng “điều cần thiết là phải chống lại sự bất khả trừng phạt của những kẻ gây ra cuộc đàn áp đẫm máu này”.

Trước thềm hội nghị thượng đỉnh, Rôma đã thay đổi lập trường, viện dẫn sự tàn bạo của cuộc đàn áp ở Iran, và Madrid hiện cũng ủng hộ động thái này, theo một tuyên bố được Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha chia sẻ với POLITICO. Việc chỉ định Lực lượng Vệ binh Cách mạng là một nhóm khủng bố sẽ cần sự ủng hộ đồng ý từ 27 quốc gia thành viên Liên Hiệp Âu Châu.

Những đoạn phim mới nhất rò rỉ từ Tehran về cuộc đàn áp tàn bạo đã vượt qua “giới hạn lớn” đối với các nước Liên Hiệp Âu Châu, Ngoại trưởng Hòa Lan David van Weel cho biết, “vì vậy hy vọng chúng ta sẽ thấy một số tiến triển” về việc xếp Lực lượng Vệ binh Cách mạng vào danh sách khủng bố tại cuộc họp hôm thứ Năm. “Ít nhất đó cũng là một vấn đề được đưa ra thảo luận.”

Ông cho biết, do tình trạng mất kết nối internet, rất khó để xác nhận chính xác số người thiệt mạng trong cuộc đàn áp, nhưng ước tính ban đầu vào khoảng 6.000 người và có thể cao hơn nhiều.

Trước khi từ bỏ lập trường phản đối, Paris đã cảnh báo rằng việc xếp Lực lượng Vệ binh Cách mạng vào nhóm khủng bố có thể gây tổn hại đến lợi ích của Pháp và làm suy yếu đòn bẩy mà nước này có thể sử dụng để kiềm chế chính phủ thần quyền.

Theo một nhà ngoại giao Liên Hiệp Âu Châu, đối với các quốc gia Âu Châu có đại sứ quán tại Tehran, Lực lượng Vệ binh Cách mạng sẽ là “một trong những bên đối thoại chính” với chế độ, vì vậy việc cấm liên lạc với nhân viên của lực lượng này sẽ rất khó thực hiện. Nhà ngoại giao này được giấu tên để có thể phát biểu tự do.

Theo Alex Vatanka, một chuyên gia về Iran tại Viện Trung Đông ở Washington, Lực lượng Vệ binh Cách mạng “là một nhà nước trong nhà nước”. Ông nói thêm: “Họ được tích hợp vào các bộ phận cao nhất của chế độ và tham gia vào nhiều vấn đề mà phương Tây quan tâm; chương trình hạt nhân, hỏa tiễn, các hoạt động khu vực của Iran.”

Một trong những lý lẽ phản đối việc đưa Lực lượng Vệ binh Cách mạng vào danh sách khủng bố là nỗi lo sợ bị trả thù. Iran đã nhiều lần sử dụng chiến lược bắt giữ người Âu Châu để làm con bài mặc cả trong ngoại giao quốc tế, trong đó có cựu quan chức Liên Hiệp Âu Châu Johan Floderus, người được thả khỏi nhà tù Evin khét tiếng năm 2024. Paris đã bảo đảm việc thả hai công dân của mình - Cécile Kohler và Jacques Paris - khỏi nhà tù Evin, hiện họ đang bị quản thúc tại gia ở Đại sứ quán Pháp tại Tehran.

“Chúng ta cần gửi một thông điệp mạnh mẽ,” ông van Weel nói. Ông nói thêm: “Lực lượng Vệ binh Cách mạng là chất keo kết dính và xương sống giữ cho chế độ này tồn tại, chỉ đạo hầu hết các hành vi bạo lực, nắm quyền kiểm soát hầu hết các hoạt động kinh tế, trong khi phần còn lại của đất nước đang sống trong cảnh nghèo đói. Vì vậy, tôi nghĩ đây là yếu tố then chốt tạo điều kiện cho những hành động tàn bạo mà chúng ta đã chứng kiến không chỉ ở Iran mà còn trong khu vực.”

Ngoài ra, các bộ trưởng dự kiến sẽ họp vào thứ Năm để thông qua việc đóng băng tài sản và cấm cấp thị thực đối với 21 cá nhân và thực thể Iran vì vi phạm nhân quyền, và thêm 10 người khác vì Tehran cung cấp vũ khí cho Nga trong cuộc chiến chống Ukraine.

Năm 2019, Mỹ đã liệt Lực lượng Vệ binh Cách mạng vào danh sách tổ chức khủng bố nước ngoài và liên tục thúc giục Liên Hiệp Âu Châu làm theo. Tổng thống Donald Trump hôm thứ Tư cảnh báo rằng “thời gian đang cạn dần” đối với chế độ này và một “hạm đội khổng lồ” đang “tiến nhanh, với sức mạnh, nhiệt huyết và mục đích rõ ràng” về phía nước này.

“Giống như trường hợp Venezuela, họ sẵn sàng, mong muốn và có khả năng nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ của mình, với tốc độ và cả bạo lực nếu cần thiết”, Tổng thống Trump nói, đề cập đến chiến dịch của Mỹ nhằm bắt giữ Nicolás Maduro. Ông nói thêm rằng ông hy vọng Tehran sẽ “ngồi vào bàn đàm phán” để thương lượng một thỏa thuận từ bỏ tham vọng vũ khí hạt nhân.

[Politico: EU moves to blacklist Iran’s enforcer army]

5. Nga đe dọa Ukraine sẽ sử dụng “vũ khí trả đũa” vào tuần tới, ám chỉ đến các loại bom V-1 và V-2 của Đức Quốc xã từng ném bom Luân Đôn.

Chủ tịch Quốc hội Nga, Vyacheslav Volodin, đã đe dọa Kyiv về “những rắc rối mới bắt đầu từ tuần tới”. Lời cảnh báo được đưa ra khi nhiệt độ mùa đông dự kiến sẽ giảm xuống dưới -20°C hoặc -4°F ở Ukraine trong bảy ngày tới.

Kể từ đầu mùa đông, Nga đã tiến hành 256 cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Ukraine. Các cuộc tấn công khủng bố làm gián đoạn hoạt động của bệnh viện, ngăn cản người bệnh sử dụng thang máy và cắt nguồn cung cấp oxy cho thiết bị y tế.

Đồng thời, Nga đang ném bom các đoàn tàu di tản nhằm mục đích kích động biểu tình ở các thành phố lớn, gia tăng áp lực lên chính quyền và buộc Ukraine phải đầu hàng.

Nga lên kế hoạch “đàm phán hòa bình” và đe dọa bằng khủng bố.

Ông Volodin đã đưa ra những lời đe dọa này trước vòng đàm phán tiếp theo tại Abu Dhabi giữa phái đoàn Ukraine và Nga.

“ Quân đội của chúng ta đang tiến công. Các đại biểu Duma Quốc gia kiên quyết sử dụng vũ khí mạnh hơn – vũ khí phản công – để đạt được mục tiêu của ‘chiến dịch quân sự đặc biệt’”, Volodin viết trên mạng xã hội.

Ông ta đã mỉa mai cáo buộc Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy từ chối thực hiện “các thỏa thuận giữa Putin và Tổng thống Trump”.

Ý nghĩa chính xác của điều này vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Ukraine đã từ chối nhượng lại các vùng Donetsk và Luhansk cho Nga. Những “món quà” như vậy dành cho Mạc Tư Khoa sẽ tạo tiền đề cho các cuộc biểu tình và diệt chủng, vì hiện vẫn còn gần 800.000 người sinh sống tại đó.

Bóng ma của quá khứ Đức Quốc xã: “Vũ khí trả đũa” là gì?

Thuật ngữ “vũ khí trả đũa” (tiếng Đức Vergeltungswaffen, V-weapons) trong lịch sử dùng để chỉ một loạt các dự án hỏa tiễn và pháo binh của Đức Quốc xã (V-1, V-2, V-3), được phát triển để ném bom các thành phố, chủ yếu là Luân Đôn, vào năm 1944–1945, nhằm trả thù cho các cuộc không kích của quân Đồng minh.

Việc Nga sử dụng các thuật ngữ hiện đại tương đương với khái niệm này cho thấy mục tiêu là nhắm vào dân thường, chứ không phải là các cuộc tấn công quân sự chính xác.

“Ngoại giao bên bờ vực”: đàm phán và rủi ro chiến lược

Trước đó, nhà đàm phán người Nga Kirill Dmitriev đã đến Miami để tham gia vòng đàm phán tiếp theo với Washington, trong khi Ukraine chuẩn bị cho các cuộc gặp có thể xảy ra với Nga tại Abu Dhabi.

Trước đó, trong vòng đàm phán cuối cùng, Nga đã phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào Kyiv, khiến nhiều thường dân thiệt mạng. Mặc dù vậy, Mỹ đã không có phản ứng mạnh mẽ nào. Không có lệnh trừng phạt nào được áp đặt, cũng không có cơ chế gây áp lực nào khác được sử dụng. Nga đã sử dụng hỏa tiễn Kh-22 không chính xác, loại hỏa tiễn này cũng chứa một lượng lớn chất độc hại.

[Europe Maidan: Russia threatens Ukraine to use “retaliation weapons” next week, hinting on Nazi V-1, V-2 bombs that bombed London]

6. Máy bay điều khiển từ xa của lực lượng biên phòng Ukraine phá hủy hệ thống hỏa tiễn Type-63 ngụy trang của Trung Quốc ở miền nam Ukraine.

Theo thông báo của Cục Biên phòng Nhà nước, các phi công điều khiển máy bay điều khiển từ xa thuộc lực lượng biên phòng Ukraine, phối hợp với Lực lượng Quốc phòng, đã phá hủy một hệ thống phóng rocket đa nòng Type-63 của Nga ở phía nam.

Các kíp lái của BpLA đã phát hiện ra bệ phóng hỏa tiễn của địch, thứ mà lực lượng Nga đã cố gắng ngụy trang. Theo Cục Biên phòng, sau cuộc tấn công, lượng đạn dược bắt đầu phát nổ.

Các nguồn thông tin công khai cho thấy hệ thống pháo phản lực đa nòng Type-63 được sản xuất tại Trung Quốc.

Trang thiết bị quân sự của Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quân đội Nga, đặc biệt là trong bối cảnh các lệnh trừng phạt của phương Tây kể từ năm 2022.

Nga phụ thuộc vào Trung Quốc về các phụ tùng lưỡng dụng như máy công cụ, hóa chất dùng cho thuốc nổ và phụ tùng điện tử được sử dụng trong sản xuất máy bay điều khiển từ xa, hỏa tiễn và pháo binh tại ít nhất 20 cơ sở.

Mặc dù việc chuyển giao trực tiếp các loại vũ khí sát thương như xe tăng hoặc máy bay phản lực vẫn bị hạn chế để tránh leo thang căng thẳng, các công ty Trung Quốc vẫn cung cấp các thiết bị quang học, nhiên liệu đẩy và thậm chí cả hỏa tiễn MLRS Type 63 thu giữ được từ kho dự trữ của Nga.

Hệ thống phóng rocket đa nòng Type 63 là hệ thống phóng rocket kéo theo, 12 nòng, cỡ nòng 107ly, được sản xuất bởi Trung Quốc bắt đầu từ năm 1963 tại Nhà máy Quốc doanh số 847.

[Europe Maidan: Border guard drones destroy camouflaged Chinese Type-63 rocket system in southern Ukraine]

2. Các động thái của Tổng thống Trump đối với Iran gây lo ngại cho các đồng minh Ả Rập.

Chính quyền một số quốc gia vùng Vịnh đang ngày càng lo ngại rằng Tổng thống Trump có thể đang đẩy Hoa Kỳ đến bờ vực một cuộc tấn công khác nhằm vào Iran, bất chấp những nỗ lực không ngừng của họ nhằm khuyên nhủ nước này kiềm chế.

Theo ba người quen thuộc với các cuộc trò chuyện giữa chính quyền và các đồng minh vùng Vịnh, Tòa Bạch Ốc đang đưa ra rất ít lời bảo đảm về việc sẽ lắng nghe lời khuyên đó. Và ba người này tin rằng những lời lẽ cứng rắn trước công chúng của Tổng thống Trump — chưa kể đến việc ông tiếp tục chuyển hướng nguồn lực quân sự về phía vùng Vịnh — đang đẩy ông vào thế khó đến mức một cuộc tấn công nào đó vào Iran có thể là điều không thể tránh khỏi.

Sau chiến dịch của Mỹ cách đây vài tuần nhằm lật đổ cựu lãnh đạo Venezuela Nicolas Maduro, “không còn nghi ngờ gì về năng lực quân sự của Mỹ”, một trong những người quen thuộc với vấn đề này, một quan chức cao cấp vùng Vịnh, cho biết. Giống như những người khác được phỏng vấn cho báo cáo này, vị quan chức này được giấu tên để có thể nói thẳng thắn về tình hình địa chính trị đầy biến động và nhạy cảm.

Theo một quan chức cao cấp vùng Vịnh, điều khó đánh giá hơn là liệu Tổng thống Trump đã xác định được mục tiêu rõ ràng cho một cuộc tấn công khác vào Iran hay chưa — liệu có phải để lật đổ chế độ ở Tehran hay chỉ đơn giản là để gửi một thông điệp — chưa kể đến chiến thuật. Tổng thống Trump đã nhiều lần hứa hẹn một cách mơ hồ với những người biểu tình ở Iran rằng “sự giúp đỡ đang đến”.

“Ngay cả sau nhiều cuộc đối thoại, chúng tôi vẫn chưa rõ cả hai bên muốn gì”, một nguồn tin thứ hai thân cận với vấn đề này, một nhà ngoại giao cao cấp người Ả Rập từng liên lạc với chính quyền, cho biết.

Năm quốc gia — Ả Rập Xê Út, Qatar, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Oman và Thổ Nhĩ Kỳ — đã hợp tác để ngăn chặn một cuộc xung đột leo thang hoặc chiến tranh toàn diện khác có thể gây bất ổn khu vực vùng Vịnh. Tổng thống Trump từ lâu đã ưu tiên việc tăng cường quan hệ kinh doanh và ngoại giao trong một Trung Đông hiện đại hóa và hòa bình hơn, một mục tiêu đôi khi mâu thuẫn với đường lối của ông đối với Iran, nơi ông tiếp tục đe dọa sử dụng vũ lực quân sự để theo đuổi một thỏa thuận.

Tuần này, thái tử Saudi Arabia, Mohammed bin Salman, đã công khai lời hứa với tổng thống Iran rằng Riyadh sẽ không cho phép không phận của mình bị sử dụng cho bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào Iran. Điều này diễn ra sau một tuyên bố tương tự từ UAE.

Thông qua nhiều kênh khác nhau, các quan chức từ những quốc gia đó đã thúc giục các nhà lãnh đạo Iran ngồi vào bàn đàm phán. Nhưng họ thừa nhận một cách riêng tư rằng một thỏa thuận nhằm xóa bỏ hoàn toàn chương trình hạt nhân của nước này, vốn đã bị suy yếu nghiêm trọng trong cuộc oanh tạc của Mỹ năm ngoái vào cuối cuộc chiến 12 ngày với Israel, dường như khó có thể đạt được.

Hôm thứ Sáu, khi nói chuyện với các phóng viên tại Phòng Bầu dục, Tổng thống Trump, người đã cảnh báo các nhà lãnh đạo Iran về việc khởi động lại chương trình hạt nhân và bất kỳ hành động bạo lực nào được sử dụng để đàn áp các cuộc biểu tình quy mô lớn, một lần nữa nhấn mạnh thực tế rằng một “hạm đội lớn” tàu chiến Mỹ đang hướng đến Vịnh Ba Tư theo chỉ thị của ông. Ông lưu ý rằng màn phô trương sức mạnh này “thậm chí còn lớn hơn cả ở Venezuela”.

Việc triển khai hải quân mới này tương tự như việc triển khai hồi mùa xuân trước cuộc tấn công chung của Mỹ và Israel vào các cơ sở hạt nhân của Iran.

Hàng Không Mẫu Hạm USS Abraham Lincoln vừa mới đến khu vực này, cùng với năm tàu khu trục mang hỏa tiễn dẫn đường và hai tàu chiến ven biển nhỏ hơn có thể được sử dụng để theo dõi các hỏa tiễn do Iran phóng. Mặc dù Mỹ và các đồng minh có hệ thống phòng không đáng kể trong khu vực, nhưng một số hệ thống được gấp rút triển khai đến đó vào mùa xuân, như khẩu đội hỏa tiễn Patriot thường đóng tại Nam Hàn, đã được đưa trở về nước.

Trong khi Tổng thống Trump nhấn mạnh hỏa lực của hạm đội, ông bày tỏ rằng ông thích tìm kiếm một giải pháp ngoại giao hơn. “Nếu chúng ta đạt được thỏa thuận, điều đó tốt. Nếu không đạt được thỏa thuận, chúng ta sẽ xem điều gì xảy ra”, ông nói, đồng thời cho biết thêm rằng Iran muốn đạt được một thỏa thuận.

[Politico: Trump’s Iran moves rattle Arab allies]

7. Tổng thống Iran đổ lỗi cho Mỹ, Israel và Âu Châu vì đã kích động các cuộc biểu tình bạo lực.

Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian hôm thứ Bảy đã cáo buộc Mỹ, Israel và Âu Châu lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế của Iran để kích động bất ổn và “chia rẽ đất nước”, sau các cuộc biểu tình trên toàn quốc phản đối lạm phát tăng cao và chi phí sinh hoạt leo thang.

Theo các báo cáo truyền thông, Tổng thống Donald Trump, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và các nhà lãnh đạo Âu Châu “khiêu khích, gây chia rẽ và cung cấp nguồn lực, lôi kéo một số người vô tội vào phong trào này”. Ông Pezeshkian cho biết trong một chương trình phát sóng trên truyền hình nhà nước.

Pezeshkian nói thêm rằng tình trạng bất ổn không chỉ đơn thuần là một cuộc biểu tình xã hội mà là một nỗ lực phối hợp nhằm gieo rắc sự chia rẽ. Ông nói: “Ai cũng biết rằng vấn đề không chỉ là một cuộc biểu tình xã hội”.

Các cuộc biểu tình, bùng phát vào cuối năm 2025 sau sự suy thoái mạnh mẽ của nền kinh tế Iran, đã vấp phải sự đàn áp ngày càng tàn bạo của chính phủ, bao gồm các vụ bắt giữ hàng loạt, giết người và gần như cắt hoàn toàn internet. Các tổ chức nhân quyền cho biết hàng ngàn người đã bị giết hoặc bị giam giữ. Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã tổ chức một phiên họp khẩn cấp, lưu ý rằng bạo lực chống lại người biểu tình trong những tuần gần đây là đẫy máu nhất kể từ cuộc cách mạng Iran năm 1979.

Tại Washington, Tổng thống Trump đã nhiều lần hứa với những người biểu tình rằng “sự giúp đỡ đang đến”, trong khi lực lượng Israel tăng cường hiện diện trong khu vực. Trong những tuần gần đây, Tổng thống Trump đã kêu gọi “lãnh đạo mới” ở Iran và cảnh báo về hành động quân sự tiềm tàng để đáp trả cuộc đàn áp.

Hôm thứ Năm, Liên minh Âu Châu đã chỉ định Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran là một tổ chức khủng bố sau cuộc đàn áp. “Sự đàn áp không thể không bị đáp trả”, nhà ngoại giao hàng đầu của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, nói.

“Liên Hiệp Âu Châu đã áp đặt các biện pháp trừng phạt sâu rộng đối với Iran — đối với những cá nhân chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm nhân quyền, các hoạt động phổ biến vũ khí hạt nhân và sự ủng hộ của Tehran đối với cuộc chiến của Nga ở Ukraine — và tôi sẵn sàng đề xuất thêm các biện pháp trừng phạt để đáp trả sự đàn áp tàn bạo của chế độ đối với những người biểu tình,” bà nói với POLITICO hồi đầu tháng này.

[Politico: Iran’s president blames US, Israel and Europe for fueling violent protests]

8. 500.000 người nhập cư không giấy tờ sẽ được cấp quy chế pháp lý tại Tây Ban Nha.

Chính phủ Tây Ban Nha đã tuyên bố sẽ cấp quy chế pháp lý cho khoảng 500.000 người nhập cư không có giấy tờ hợp lệ, hiện đang sinh sống và làm việc bất hợp pháp tại nước này.

Hôm thứ Ba, Bộ trưởng Di trú Tây Ban Nha Elma Saiz cho biết một biện pháp sẽ được thực hiện để cho phép những người nhập cư đủ điều kiện được cư trú hợp pháp tối đa một năm cũng như được phép làm việc.

Biện pháp mới này hoàn toàn trái ngược với các chính sách chống nhập cư đang được áp dụng tại Hoa Kỳ và một số quốc gia Âu Châu.

Trong bối cảnh chiến dịch Metro Surge của chính quyền Tổng thống Trump dẫn đến hàng trăm vụ bắt giữ trên khắp khu vực Twin Cities, Minneapolis và St. Paul, Minnesota, cũng như cái chết của hai người Mỹ Renee Good và Alex Pretti, các cuộc biểu tình và các cuộc thăm dò dư luận tiếp tục cho thấy sự phẫn nộ của công chúng đối với Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan, gọi tắt là ICE và Lực lượng Tuần tra Biên giới Hoa Kỳ trên toàn quốc, với nhiều người nổi tiếng cũng lên tiếng về các chính sách nhập cư hiện tại của Mỹ.

Một số quốc gia Âu Châu—bao gồm Ý, Đan Mạch, Áo, Bỉ, Cộng hòa Tiệp, Estonia, Latvia, Lithuania và Ba Lan—cũng đã kêu gọi Liên minh Âu Châu vào năm ngoái đơn giản hóa quy trình trục xuất tội phạm nước ngoài cho các quốc gia thành viên, trong khi Anh đề xuất những thay đổi lớn đối với chính sách về người xin tị nạn vào cuối năm ngoái để siết chặt kiểm soát nhập cư.

So với các nước Âu Châu đang siết chặt chính sách nhập cư, ông Saiz cho biết Tây Ban Nha sẽ “không làm ngơ” và chính phủ đang “tôn trọng và công nhận những người đã ở trong nước”.

Bà cho biết biện pháp này có thể mang lại lợi ích cho khoảng 500.000 người đang sinh sống tại Tây Ban Nha mà không có giấy tờ hợp pháp, mặc dù các tổ chức khác được tường trình đã ước tính con số này có thể cao hơn đáng kể—khoảng 800.000 người.

Tại Tây Ban Nha, nhiều người nhập cư đến từ các quốc gia Mỹ Latinh hoặc Phi Châu, thường làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, du lịch hoặc dịch vụ, mỗi lĩnh vực đều đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của Tây Ban Nha.

Đây cũng không phải là lần đầu tiên Tây Ban Nha cấp quy chế pháp lý cho một số người nhập cư bất hợp pháp, vì từ năm 1986 đến năm 2005, nước này đã áp dụng các biện pháp tương tự sáu lần.

Theo sáng kiến mới này, người nhập cư có thể được cấp quy chế cư trú hợp pháp tối đa một năm nếu họ chứng minh được đã ở trong nước ít nhất năm tháng, đến trước ngày 31 tháng 12 năm 2025 và không có tiền án tiền sự.

Động thái này đã nhận được sự ủng hộ từ nhiều nhóm khác nhau, từ các nhóm bảo vệ quyền của người di cư đến các hiệp hội Công Giáo, những người cho rằng động thái này sẽ mang lại cho người nhập cư làm những công việc thiết yếu những quyền và sự bảo vệ quan trọng của người lao động như trong các công việc chính thức.

Tuy nhiên, động thái này không phải không vấp phải sự chỉ trích, khi một số đảng trung hữu và cực hữu lên án chính sách này, bày tỏ lo ngại về tỷ lệ nhập cư trong nước.

Bình luận về chiến dịch trấn áp nhập cư toàn cầu đang diễn ra ở Âu Châu và Mỹ, bà Saiz cho biết Tây Ban Nha sẽ là “ngọn hải đăng” trong cuộc chiến chống lại các chính sách này. Bà nói thêm: “Chúng tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng để ngăn chặn nó. Tôi tin rằng hôm nay là một ngày trọng đại đối với đất nước chúng ta.”

[Newsweek: 500,000 Undocumented Migrants To Get Legal Status in Spain]
 
Đức Giám Mục Arkansas than thở: Xã hội Mỹ thời Trump cũng tệ như xã hội Đức thời tiền Quốc xã Hitler
VietCatholic Media
19:51 01/02/2026


1. Nhà cửa của các gia đình Kitô giáo bị phá hủy vì họ từ chối từ bỏ đức tin.

Bốn gia đình Kitô Hữu đã bị phá hủy nhà cửa tại một thị trấn ở bang Maharashtra, Ấn Độ, vì họ từ chối từ bỏ đức tin của mình.

Theo tổ chức vận động Christian Solidarity Worldwide có trụ sở tại Anh, một nhóm khoảng 20 người ở làng Midapalli, thuộc huyện Gadchiroli, đã đối đầu với sáu gia đình Kitô giáo, tổng cộng khoảng 25 người, và đưa ra tối hậu thư.

Nhà của bốn gia đình từ chối cải đạo sau đó đã bị phá hủy. Khi vụ việc được trình báo với cảnh sát địa phương, chính quyền lại đứng về phía thủ phạm và không hề bảo vệ các gia đình.

Bình luận về vụ việc, Mervyn Thomas, người sáng lập và chủ tịch của Christian Solidarity Worldwide, cho biết: “Thật đáng lo ngại khi chứng kiến sự tấn công và sỉ nhục nghiêm trọng và không thể chấp nhận được mà các gia đình này phải gánh chịu vì tôn giáo của họ.

“Điều đáng báo động hơn nữa là việc cảnh sát không bảo vệ được những công dân dễ bị tổn thương này, điều đó đã tiếp thêm động lực cho những kẻ gây án.”

“Chúng tôi kêu gọi chính quyền địa phương và chính quyền tiểu bang can thiệp khẩn cấp, bảo đảm an toàn cho các gia đình bị ảnh hưởng, khôi phục quyền lợi của họ, bồi thường cho họ những thiệt hại về nhà cửa và đưa những người chịu trách nhiệm ra trước pháp luật.”

Ấn Độ đã chứng kiến sự gia tăng đều đặn các vụ bức hại Kitô giáo trong những năm gần đây. Kể từ khi đảng Bharatiya Janata Party, gọi tắt là BJP của Narendra Modi, vốn gắn liền với chủ nghĩa dân tộc Hindu, lên nắm quyền vào năm 2014, các vụ tấn công đã leo thang đến mức độ chưa từng thấy. Dữ liệu do Tổ chức Quan tâm Kitô giáo Quốc tế công bố cho thấy các vụ tấn công nhằm vào Kitô hữu ở Ấn Độ đã tăng hơn năm lần kể từ khi đảng này lên nắm quyền, từ 127 vụ vào năm 2014 lên 745 vụ vào năm 2024.

Một loạt các luật chống cải đạo cũng đã được thông qua trong những năm gần đây, với 12 trong số 28 tiểu bang của Ấn Độ hiện có luật như vậy. Những luật này được sử dụng rộng rãi như một công cụ để đàn áp việc thực hành tôn giáo của người Kitô giáo, với các buổi cầu nguyện, công việc bác ái và thậm chí cả việc thờ phượng riêng tư tại nhà đều bị tấn công thông qua các khiếu nại. Các luật này cũng đặt ra những câu hỏi nghiêm trọng về tự do ngôn luận và tín ngưỡng tôn giáo ở quốc gia đa số theo đạo Hindu, vì người Ấn Độ không được phép tự do truyền đạo.

Một vụ việc đặc biệt đáng lo ngại đã xảy ra năm ngoái khi các thành viên của Dòng Nữ tu Assisi của Đức Mẹ Maria bị bắt giữ tại Durg, một thành phố thuộc bang Chhattisgarh ở miền trung Ấn Độ, với cáo buộc buôn người và cải đạo. Các nữ tu này đang đi cùng ba phụ nữ trẻ được cộng đồng đề nghị việc làm, đều trên 18 tuổi và có thư đồng ý từ gia đình.

Bất chấp những tuyên bố rằng luật pháp tồn tại để ngăn chặn sự ép buộc tôn giáo, các phong trào dân tộc chủ nghĩa Hindu liên quan đến việc ban hành luật này cũng đã tiến hành các chiến dịch cải đạo riêng của họ. Ghar Wapsi là một sáng kiến toàn quốc do các nhóm dân tộc chủ nghĩa Hindu tổ chức nhằm khuyến khích những người đã cải đạo từ Ấn Độ giáo sang Kitô giáo quay trở lại tôn giáo cũ của họ. Chiến dịch này tìm cách thu hút một lượng lớn người “không thể chạm vào”, hay Dalit, một nhóm dân tộc-xã hội, mặc dù có tổ tiên là người Hindu, nhưng trong lịch sử đã phải đối mặt với sự đàn áp trong xã hội Hindu và đã cải đạo sang Kitô giáo với số lượng đáng kể. Hàng triệu Kitô hữu đã rời bỏ Ấn Độ giáo vì sự kỳ thị và phân biệt đối xử dựa trên đẳng cấp hiện đang phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng để quay trở lại tôn giáo này.

Theo thống kê dân số năm 2011, người Kitô hữu chiếm 2,3% dân số Ấn Độ, tương đương khoảng 28 triệu người. Ấn Độ đứng thứ 11 trong số 50 quốc gia mà người Kitô hữu phải đối mặt với sự đàn áp nghiêm trọng nhất, theo tổ chức Open Doors International.


Source:Catholic Herald

2. Giám mục tiểu bang Arkansas nhận xét chua chát rằng xã hội Mỹ thời Trump cũng gần như xã hội Đức thời tiền Quốc xã Hitler.

Giám mục Anthony Taylor của Little Rock, Arkansas, đã đưa ra một tuyên bố so sánh “sự suy thoái đạo đức của đất nước chúng ta” với những sự kiện dẫn đến sự trỗi dậy của Đức Quốc xã.

Trong tuyên bố, Đức Cha Taylor nói rằng “sự suy thoái đạo đức của đất nước chúng ta là có thật” và nhấn mạnh rằng “chúng ta sẽ lặp lại những thất bại trong quá khứ nếu không sẵn sàng ghi nhớ và học hỏi từ chúng”. Mặc dù Mỹ không phải là Đức Quốc xã và Trump không phải là Hitler, Đức Cha Taylor nói, nhưng những điểm tương đồng đáng lo ngại đang dần xuất hiện.

Ngài nói: “Sự phân cực và bè phái đang đầu độc nền tảng xã hội của đất nước chúng ta. Điều này có nhiều điểm tương đồng rõ ràng với những năm 1930, và điều đó nên khiến chúng ta phải suy ngẫm.”

Tuyên bố của giám mục Arkansas được đưa ra hai ngày trước ngày tưởng niệm nạn nhân Holocaust được quốc tế công nhận.

Sự tương đồng về chính trị

“Ông nội tôi đã mất 20 người anh em họ trong thảm họa Holocaust, và vì vậy tôi thừa nhận mình có xu hướng nhìn nhận những vấn đề đáng lo ngại trong thế giới ngày nay qua lăng kính của nước Đức những năm 1930,” Đức Cha Taylor nói. “Để tránh bất kỳ ai cho rằng phần còn lại của phát biểu của tôi là cường điệu, tôi muốn làm rõ rằng thời điểm hiện tại không giống hệt như vậy, và Tổng thống Trump không phải là Hitler.”

“Ở Hitler, nước Đức có một người hùng biện tài ba, người có khả năng khai thác nỗi sợ hãi và sự tức giận dễ hiểu của người dân sau những tổn thất thảm khốc của đất nước trong Thế chiến I và sự sụp đổ tài chính vào cuối những năm 1920. Những người này khao khát quê hương thân yêu của họ sẽ vĩ đại trở lại, và nhiều người bất mãn đã đồng cảm với những lời nói của Hitler về người Đức 'thực sự', chủng tộc Aryan, và sự chế giễu, bôi nhọ của ông ta đối với những người khác biệt về chủng tộc, tôn giáo hoặc không cùng quan điểm với ông ta.”

Theo Đức Cha Taylor, nền dân chủ của Đức vào những năm 1930 “vẫn còn non trẻ” và thiếu các cơ chế kiểm soát và cân bằng thích đáng. Ngài nói rằng các chính trị gia “quá nhanh chóng làm theo bất kỳ hướng nào mà giới lãnh đạo đề ra”, và những người cố gắng chống lại Hitler trước tiên bị bịt miệng bằng “sự hăm dọa và đe dọa”, sau đó bị đưa đến các trại tập trung.

“Trong thập niên đó, xã hội Đức đã xa rời sự tôn trọng phẩm giá con người, hòa bình và sự kiềm chế đạo đức. Tôi lo ngại rằng những động thái tương tự đang diễn ra ở đất nước chúng ta với sự suy giảm của đối thoại văn minh.”

Đức Cha Taylor cho biết, vấn đề nhập cư là “một vấn đề lớn trong những năm 1930”, và lưu ý rằng trong khi Đức “vui mừng khi các nhóm thiểu số rời đi”, do cuộc Đại suy thoái và căng thẳng toàn cầu leo thang, nhiều quốc gia đã từ chối tiếp nhận người tị nạn.

“Ví dụ, tàu biển MS St. Louis của Đức chở 937 người tị nạn Do Thái đã bị Cuba, Hoa Kỳ và Canada từ chối nhập cảnh và phải quay trở lại Âu Châu. Một số quốc gia Âu Châu đã tiếp nhận một số người tị nạn đó, nhưng khoảng một phần tư trong số họ đã thiệt mạng sau đó trong thảm họa Holocaust — một lời nhắc nhở đau lòng về cái giá phải trả thực sự của con người khi đóng cửa biên giới đối với những người tị nạn hợp pháp và về các chính sách nhập cư vô nhân đạo.”

Vị giám mục ở Arkansas nhớ lại tác động của tình huống này đối với gia đình mình, lưu ý rằng những người anh em họ của ông nội ngài đã cố gắng trốn khỏi Ba Lan vào năm 1939 nhưng bị chặn lại ở biên giới và buộc phải quay trở lại làng của họ ở Galicia. Ngài nói: “Điều này đã định đoạt số phận của họ. Vào tháng 7 năm 1943, tất cả họ đều bị cuốn vào một cuộc trục xuất hàng loạt và bị đưa đến trại hủy diệt ở Belzec, nơi họ bị giết bằng khí độc và hỏa táng. “

Đức Cha lưu ý rằng “ngày nay biên giới của chúng ta vẫn phần lớn đóng cửa đối với những người đang gặp nguy hiểm nhất và phải chạy trốn khỏi sự đàn áp hoặc nghèo đói” và viện trợ nước ngoài của Mỹ phần lớn đã bị ngừng lại. Đức Cha Taylor, người vừa hoàn thành hai nhiệm kỳ trong hội đồng quản trị của Tổ chức Cứu trợ Công Giáo, gọi tắt là CRS cho biết: “Tôi hiểu rõ tác động tiêu cực” của việc đóng băng nguồn tài trợ.

“Đây là một vấn đề bảo vệ sự sống. Và nó sẽ vẫn là một vấn đề bảo vệ sự sống chừng nào hàng triệu người vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, trong khi các quốc gia có đủ nguồn lực lại từ chối giúp đỡ.”

Đức Cha Taylor nhấn mạnh rằng: “Sau khi phá bỏ và biến hệ thống pháp luật của Đức thành vũ khí, đồng thời nắm giữ quyền lực độc tài, Hitler đã có thể gia tăng quyền lực cho đến khi phe đối lập bị dập tắt không còn khả năng ngăn cản ông ta”. Đức Cha lưu ý cách Hitler tấn công và xâm lược các quốc gia khác “cho đến khi với Nga, ông ta đã tự chuốc lấy rắc rối lớn hơn khả năng giải quyết của mình”.

Vị giám mục nói rằng chính sách toàn cầu “Nước Đức trên hết” (“Deutschland Über Alles”) của Hitler “không tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác, không tôn trọng biên giới đã được thiết lập của họ, và không tôn trọng ý chí của người dân sống ở những quốc gia đó”. Thay vào đó, nhà độc tài Đức biện minh cho hành động của mình bằng những lý lẽ sai lầm, rằng người Do Thái phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề của Đức, và rằng Ba Lan đã xâm lược Đức trước.

Đức Cha Taylor khuyến khích người Công Giáo đọc bài phát biểu ngày 9 Tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trước ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, trong đó Đức Giáo Hoàng suy ngẫm về các chủ đề chính trị trong tác phẩm “Thành phố của Chúa” của Thánh Augustinô, đồng thời cảnh báo về “những mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với sự dối trá chính trị xuất phát từ những xuyên tạc lịch sử, chủ nghĩa dân tộc thái quá và sự bóp méo hình mẫu nhà lãnh đạo chính trị lý tưởng”.

“Tôi hi vọng và cầu nguyện rằng, cùng với Đức Giáo Hoàng Lêô, chúng ta có thể nỗ lực hướng tới hòa bình như một điều thực sự tốt đẹp. Và nếu chúng ta nghĩ rằng mình bất lực trong việc thay đổi suy nghĩ của các nhà lãnh đạo, thì đó chính xác là điều mà nhiều người đã tự nhủ với bản thân vào thời Hitler,” Đức Cha Taylor nói. “Nhưng ngoài tình hình chính trị hiện tại, tôi cầu nguyện rằng chúng ta sẽ bắt đầu nhìn nhận những người nhập cư và người tị nạn trong cộng đồng của chúng ta không phải là kẻ thù hay là 'người khác'. Không phải khác biệt về màu da hay giọng nói. Không phải là mối nguy hiểm hay rủi ro. Mà là được tạo dựng theo hình ảnh và giống với cùng một Thiên Chúa chân thật - như người lạ giữa chúng ta - như Chúa Giêsu (Mt 25:35).”


Source:EWTN

3. Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki sẽ không tham dự Thượng Hội đồng Đức.

Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki tuyên bố sẽ không tham dự kỳ họp thứ sáu của Thượng Hội đồng Giáo phận Đức, bắt đầu tại Stuttgart trong tuần này, vì đối với ngài, tiến trình này đã đi đến hồi kết.

Trong một cuộc phỏng vấn với trang tin Domradio.de của Đức, Đức Tổng Giám Mục Köln cho biết Con đường Thượng Hội đồng đã hoàn thành nhiệm vụ ban đầu được giao và cuộc họp sắp tới, nhằm đánh giá việc thực hiện các nghị quyết của Thượng Hội đồng tại các giáo phận, đã vượt ra ngoài phạm vi nhiệm vụ đó. Ngài nói: “Đối với tôi, Con đường Thượng Hội đồng đã kết thúc”, đồng thời lưu ý rằng đã có năm cuộc họp được dự kiến và ngài đã tham dự tất cả các cuộc họp đó.

Mặc dù quyết định không tham dự, Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng ngài không nghi ngờ thiện chí của những người tham gia. Ngài nói rằng tất cả những người tham gia đều muốn “điều tốt nhất” cho Giáo hội, đồng thời nói thêm rằng đối thoại chân chính đòi hỏi sự rõ ràng về những nền tảng chung.

Khi suy ngẫm về ý nghĩa của tính đồng nghị, Đức Hồng Y Woelki cảnh báo không nên coi mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội là đối tượng tranh luận không giới hạn. Ngài nói: “Để đưa ra một ví dụ cực đoan có chủ ý: chúng ta không thể bỏ phiếu về việc Chúa Giêsu có sống lại từ cõi chết hay không”. Ngài nói thêm rằng, đến một thời điểm nào đó, ngài có ấn tượng rằng tiến trình này đã tập trung vào việc thúc đẩy các lập trường chính trị cụ thể của Giáo hội hơn là làm sâu sắc thêm sự hiệp thông trong đức tin.

Trước đây, Đức Hồng Y Woelki đã từng giữ khoảng cách với một số nghị quyết của Thượng hội đồng. Năm 2023, ngài đã bỏ phiếu trắng đối với một đề xuất liên quan đến việc chúc phúc cho các cuộc hôn nhân đồng giới, đồng thời tái khẳng định cam kết của mình về việc duy trì sự hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ và Đức Giáo Hoàng.

Khi được hỏi liệu những quan điểm khác nhau trong Giáo hội Đức có thể được dung hòa hay không, Đức Hồng Y nói rằng đối thoại vẫn rất cần thiết, nhưng chỉ khi nền tảng của nó rõ ràng. Nền tảng đó, ngài nói, phải bao gồm lòng trung thành với đức tin và giáo huấn của Giáo hội, sự hiệp nhất với Đức Thánh Cha và một nền thần học về Giáo hội được định hình bởi Công đồng Vatican II, đặc biệt là Lumen Gentium. “Chúng ta cần phải thống nhất lại một bộ giá trị chung”.

Ngài mở rộng mối quan ngại này vượt ra ngoài các cuộc tranh luận trong giáo hội đến toàn xã hội, lập luận rằng sự gắn kết phụ thuộc vào các nguyên tắc đạo đức chung. Đối thoại thay vì bạo lực, sự đáng tin cậy, bảo vệ người yếu thế, tình đoàn kết và công lý là không thể thiếu, ngài nói, đồng thời cảnh báo rằng khi “luật của kẻ mạnh” thắng thế, phẩm giá con người và quyền cá nhân bị xói mòn, dẫn đến một xã hội tàn bạo và phi nhân tính.

Nói về tổng giáo phận của mình, Đức Hồng Y Woelki cho biết một số yếu tố của Con đường Thượng Hội đồng đã được thực hiện tại Köln, bao gồm các nỗ lực nhằm tăng cường bảo vệ, giải quyết những thất bại trong quá khứ và thúc đẩy việc chia sẻ quyền lực một cách có trách nhiệm hơn. Ngài mô tả một quá trình cải cách cấu trúc đang diễn ra nhằm bảo đảm rằng đời sống và tổ chức của Giáo hội phù hợp với các thế hệ tương lai, không phải như một mục đích tự thân mà là một sự phục vụ cho sứ mệnh.

Về vấn đề phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, một chủ đề thường xuyên được thảo luận trong Giáo hội Đức, Đức Hồng Y Woelki cho biết phụ nữ hiện đang nắm giữ một tỷ lệ đáng kể các vị trí cao cấp trong Tổng giáo phận Köln, với 36% vị trí lãnh đạo trong tòa Tổng Giám Mục do phụ nữ đảm nhiệm. Ngài nói rằng việc thúc đẩy phụ nữ nắm giữ các vị trí có trách nhiệm là một cam kết thực tiễn chứ không chỉ là một khẩu hiệu.

Việc Đức Hồng Y Woelki vắng mặt tại hội nghị Stuttgart cho thấy những căng thẳng vẫn tiếp diễn xung quanh Con đường Thượng hội đồng Đức khi nó bước vào một giai đoạn mới, làm dấy lên câu hỏi liệu tiến trình quốc gia này có thể tiếp tục khẳng định tính hợp pháp của Giáo hội một khi nó vượt ra ngoài nhiệm vụ ban đầu hay không.

Cuộc thử nghiệm của Đức đã trở thành một trường hợp thí điểm cho Giáo hội toàn cầu. Những diễn biến ở Đức được theo dõi sát sao ở những nơi khác, đặc biệt là trong các bối cảnh các trào lưu Công Giáo cấp tiến đang bùng lên ở một số khu vực như ở Nam Mỹ, đặc biệt hơn nữa là vì chúng liên quan đến giáo lý, quyền bính và mối quan hệ giữa các giáo hội địa phương và Rôma.

Như Đức Hồng Y Woelki đã nói, tiến trình thượng hội đồng ở Đức đã đạt đến điều mà ngài cho là kết thúc tự nhiên của nó. Năm cuộc họp đã được dự kiến và năm cuộc đã được tổ chức. Cuộc họp hiện tại, tập trung vào việc giám sát và thực thi việc thi hành trong các giáo phận, đánh dấu một sự chuyển đổi về chất từ thảo luận sang quản trị. Đây không phải là ngôn ngữ của sự bác bỏ, mà là của sự áp đặt. Đức Hồng Y Woelki đã cẩn thận nhấn mạnh rằng những người tham gia vào tiến trình này đang hành động với thiện chí và với mong muốn phục vụ Giáo hội. Tuy nhiên, ngài cũng cảnh báo rằng tính đồng nghị không thể có nghĩa là mọi thứ đều luôn luôn mở ra để đàm phán lại.

Kể từ khi được khởi xướng vào năm 2019, Con đường Thượng Hội đồng Đức đã đưa ra những đề xuất ngày càng tham vọng, một số trong đó mâu thuẫn rõ ràng với giáo lý Công Giáo và kỷ luật phổ quát. Những can thiệp liên tục từ Rôma đã kêu gọi thận trọng, nhắc nhở các giám mục Đức rằng không một cơ quan quốc gia nào có thẩm quyền thay đổi giáo lý hoặc các quy phạm giáo hội ràng buộc. Đức Hồng Y Woelki không phải là người duy nhất cảm thấy bất an. Các giám mục khác, như Đức Cha Stefan Oster của Passau, đã bày tỏ sự hoài nghi về hướng đi của Thượng Hội đồng. Mặc dù những giám mục này vẫn là thiểu số, sự hiện diện của họ làm phức tạp thêm câu chuyện về sự đồng thuận thường được những người ủng hộ Thượng Hội đồng trình bày.

Quá trình thượng hội đồng toàn cầu đã làm rõ rằng tính thượng hội đồng không phải là giấy phép cho sự đổi mới về giáo lý. Do đó, việc Đức Hồng Y Woelki từ chối tham gia vào việc tiếp tục vô thời hạn dự án của Đức có thể được hiểu là một hành động trung thành hơn là thách thức. Quyết định của ngài rất quan trọng bởi vì sự vắng mặt của ngài nói lên mạnh mẽ hơn bất kỳ sự hiện diện nào trong việc thể hiện sự phản đối đối với một số cách giải thích về tính đồng nghị.


Source:Catholic Herald